Léopold Simoneau – “A Poet among Tenors”

Simoneau-Leopold-07[0HHHHH_011]

Léopold Simoneau – Tenor (1916-2006)

Trong một bài viết về các vai diễn Tenor trong opera Mozart mới đăng gần đây trên trang Sinfinimusic của Christopher Gillett, tác giả người Anh đồng thời cũng là một giọng Tenor chuyên nghiệp có một nhận xét khá thú vị: “… Vấn đề rắc rối là, rất nhiều các vai Tenor trữ tình của Mozart là những nhân vật có tính cách khá buồn tẻ – hay rao giảng đạo đức và có xu hướng rơi vào một kiểu ngớ ngẩn hiếm thấy. Và giả như có một thứ gì đấy nhàm chán và khó để diễn xuất trên sân khấu hơn cái kiểu đó nữa thì tôi cũng chưa từng gặp bao giờ. Một nhân vật yếu đuối kém cỏi thậm chí có khi còn hay ho hơn…”.

Mặc dù Mozart viết không ít những aria tuyệt đẹp cho các vai Tenor trữ tình trong opera của mình, nhưng phần lớn đều là những nhân vật có cá tính khá nhạt nhòa và rất ít khi các vai tenor ấy, kể cả là những vai chính khá dài và cực kỳ khó (như Ferrando trong “Così fan tutte” chẳng hạn) trở thành ngôi sao của đêm diễn và họ thường phải nhường lại hào quang cho các soprano và thậm chí bass, baritone. Một trong những vai diễn điển hình như vậy là Don Ottavio trong kiệt tác “Don Giovanni” của Mozart, vai diễn mà Gillett cho là: “không ngừng hát rằng anh ta tức giận thế nào mà thực tế thì chả làm quái gì cả”.

Trong “Don Giovanni”, Don Ottavio là một chàng quý tộc hào hiệp vốn được hứa gả cho tiểu thư Donna Anna con Quan tể tướng (Il Commendatore). Nhưng Donna Anna không may lọt vào mắt xanh của gã Don Giovanni sở khanh háu gái, nàng bị hắn làm nhục và đau xót hơn, cha nàng vì bảo vệ danh dự cho nàng đã phải chịu chết dưới mũi kiếm oan nghiệt của gã quý tộc bất trị. Vì tình yêu với Donna Anna, Don Ottavio luôn tìm mọi cách dò la tung tích của Don Giovanni, quyết trừng phạt hắn trước những tội lỗi đã gây ra để rửa nhục cho Donna Anna và mang lại sự thanh thản, bình yên trong tâm hồn bị tổn thương của nàng. Tất nhiên Don Giovanni cuối cùng cũng bị trả giá, dù không phải dưới tay Don Ottavio, nhưng ít nhất tình cảm chân thành và tấm lòng trượng nghĩa của Don Ottavio cũng làm được đền đáp bằng tình yêu chung thủy của Donna Anna.

Không mỉa mai và châm biếm như Gillet, Léopold Simoneau – giọng tenor người Canada gốc Pháp và là một trong những Mozartean xuất sắc nhất hậu Thế chiến, có một cái nhìn khách quan và cẩn trọng hơn về Don Ottavio: ” Tôi đã nghiên cứu một chút về nhân vật này trước khi thể hiện nó, và thậm chí trong suốt sự nghiệp của tôi. Nếu anh tiếp cận vở kịch gốc của Don Giovanni, hay thậm chí bản kịch của Molière (vở Dom Juan), anh sẽ thấy là Ottavio có cá tính mạnh mẽ hơn rất nhiều so với ý niệm của Da Ponte (người soạn lời cho Don Giovanni của Mozart). Tôi cố gắng gia tăng thêm cá tính mạnh mẽ từ những bản kịch Don Giovanni khác vào tinh thần của Don Ottavio trong lời hát của Da Ponte.”

“Ngài Mozart” – những khán giả của thành Vienna đã gọi Léopold Simoneo bằng cái biệt danh đầy ưu ái như vậy. Chất giọng mượt mà êm ái, kĩ thuật thanh nhạc hoàn hảo và đặc biệt là một phong thái thanh lịch và cực kỳ tinh tế hiếm thấy trong lối hát ở các tenor đã làm nên một cá tính nghệ sỹ vô cùng khác biệt và độc đào trong lứa ca sĩ thế hệ vàng thập niên 50 – lứa nghệ sỹ vốn không thiếu anh tài thanh nhạc đủ loại. Các tác phẩm trữ tình Pháp và đặc biệt là opera Mozart gần như là những kịch mục thế mạnh tuyệt đối của Leopold Simoneau. Dù L.Alva, N.Gedda, F.Wunderlich và đặc biệt là giọng Tenor Áo tài năng gốc Slovenia – A. Dermonta (một trong những Mozartean xuất chúng khác mà Ad rất nể trọng) có những tìm tòi thể hiện ấn tượng trong các vai Tenor Mozart, nhưng có lẽ không ai trong số đó hát Mozart vừa mẫu mực mà lại vừa duyên dáng đầy quyến rũ như Simoneau.

Simoneau có một sự tôn thờ nhất mực với Mozart, như ông từng tâm sự về bí quyết hát Mozart là “…anh phải yêu nhà soạn nhạc bằng cả trái tim. Điều đó có nghĩa là anh sẽ phải chấp nhận trở thành một kẻ nô lệ cho vị thiên tài ấy, phải dâng hiến toàn bộ thời gian, năng lượng trong việc nghiên cứu tìm tòi, thấm nhuần và để trau chuốt được thứ văn chương đẹp đẽ ấy. Tôi không nghĩ rằng ai đó có thể đến và yêu được Mozart ngay lập tức. Tình yêu đó đến từ việc anh phải chắt lọc thẩm mỹ của anh và từ sự thấu hiểu con người này.”

Tuy vậy, sự tinh tế, tao nhã và uyên bác trong lối thế hiện của Simoneau không dễ dàng gây thiện cảm với những khán giả quen với những âm thanh đại bác cường tráng khổng lồ của các tenor kịch tính đương thời. Simoneau hầu như không tạo được chút tiếng vang gì tại các nhà hát bên kia bờ Đại Tây Dương, dù từng đôi lần được mời hát tại Met Opera. Trái lại, ông lại rất được ưa chuộng ở Châu Âu và luôn nhận được sự ngưỡng mộ của đồng nghiệp cũng như những lời phê bình đầy thiện chí từ những tai nghe khó tính nhất.

Nhà phê bình âm nhạc nổi tiếng Jürgen Kesting gọi Simoneau là “một nhà thơ trong số những tenor”, còn Jens Malte Fischer của tờ Süddeutsche Zeitung thì viết rằng: “Nếu có bất cứ bản thu nào của Simoneau thì hãy lập tức mua ngay, khỏi cần nghe thử”. Có lẽ không cần phải giới thiệu thêm nữa. Dưới đây là một trong hai aria nổi tiếng nhất của Don Ottavio “Il mio tesoro” (Aria còn lại là “Dalla sua pace”) với bản thu studio lừng danh thực hiện năm 1953 của Léopold Simoneau. Tất cả đều hoàn hảo từ phong cách thể hiện, lối phân câu cho đến giọng hát liền mạch, mịn màng khó sánh của một trong những tenor trữ tình nhẹ đẹp nhất trong lịch sử ghi âm.

Một giọt lệ âm thầm lặng lẽ

roberto-alagna

Tenor Roberto Alagna (1963)

Trong vở opera “L’elisir d’amor”, anh chàng nông dân thật thà Nemorino vốn phải lòng cô điền chủ xinh đẹp Adina, mà không biết làm thế nào có thể chiếm được trái tim cô nàng thông minh lém lỉnh này. Nemorino dại dột lại nghe lời tay lang băm dạo dốc cạn túi tiền mua một thứ rượu “mê tình” với hi vọng sau khi uống nó Adina đổi ý và nảy sinh tình cảm với cậu ta.

Thứ rượu giả cầy đó tất nhiên không mang lại tác dụng gì mà tiền thì giờ cũng chẳng còn, anh chàng ngốc nghếch bèn chấp nhận đăng lính để có tiền mua thêm “rượu tình” vì cho rằng mình dùng chưa đủ liều.

Cùng lúc ấy, ông bác ruột của Nemorino bỗng qua đời, anh ta không hề hay biết mình chính là người được thừa kế duy nhất gia tài kếch xù của ông bác và tự dưng trở thành một người giàu có. Tin đồn lan nhanh, các cô gái trong làng xôn xao, vội nườm nượp vây quanh Nemorino, còn gã ngốc kia lại cứ tưởng đó là nhờ tác dụng của thứ nước rởm rít đó, nên càng thích thú vui vẻ chuyện trò với các cô gái, thậm chí còn tỏ ra không thèm để ý đến Adina nữa.

Sự nổi tiếng bất chợt của Nemorino chạm đến lòng tự ái của Adina, dù ít nhiều cô cũng có cảm tình với anh chàng nông dân chất phác. Cô càng tức giận hơn khi biết chuyện Nemorino đã đăng lính chỉ để có tiền mua “rượu tình”. Và khi tay lang băm cáo già lại tiếp tục mon men tới dụ dỗ Adina mua tình dược, cô nàng kiêu hãnh, sắc sảo liền từ chối thẳng thừng, và thề quyết dùng sự quyến rũ của mình để khiến Nemorino quay lại mà không hề biết rằng, thực ra trong tâm trí Nemorino trước sau gì cũng chỉ có một mình hình bóng của cô mà thôi.

Cơn giận và sự ấm ức của Adina lại được Nemorino tồ tệch hiểu theo một nghĩa khác. Thoáng thấy khóe mắt ướt của Adina, Nemorino cho rằng, dưới năng lực thần kì của “rượu tình”, Adina giờ đã thực sự yêu anh và giọt nước mắt ấy rớt xuống chính bởi cô đang ghen với các cô em xinh đẹp đang bu xung quanh anh lúc này. Và đến lúc này, Donizetti đã gửi tặng cho khán giả một aria tuyệt đẹp qua nhân vật Nemorino – bản romanza: “Una furtiva lagrima” (một giọt nước mắt âm thầm lặng lẽ rơi).
——————–
Thực ra cũng chẳng cần phải giới thiệu quá dài dòng về “una furtiva lagrima”, vì aria nổi tiếng này đã xuất hiện nhan nhàn trong các tác phẩm điện ảnh hay những sản phẩm văn hóa đại chúng. Cũng giống như “la donna è mobile” hay “O mio babbino caro”, giai điệu dịu dàng, mê đắm của bản romanza trữ tình này dễ dàng hớp hồn hàng triệu khán thính giả ngay từ lần đầu tiên tiếp xúc với nó.

Dưới đây là phần thể hiện của giọng tenor tài năng người Pháp gốc Ý, Roberto Alagna. Trong suốt thập niên 90, có thể coi Alagna là giọng tenor sáng nhất trên sân khấu opera thế giới. Cùng với mối tình đẹp như mộng với prima donna người Rumania, Angela Gheorghiu, sự nghiệp Alagna lên đến đỉnh trong những năm đầu tiên của thế kỉ XXI.

Nhưng chỉ vài năm sau, với những scandal về thái độ ngôi sao, thiếu chuyên nghiệp (đặc biệt là vụ bỏ ngang lưng đêm diễn Aida tại La Scala năm 2006 khi bị khán giả boo), tên tuổi của Alagna ít nhiều bị ảnh hưởng. Và vị trí tenor số 1 của Alagna nhanh chóng bị thay thế bởi các đàn em như Jonas Kaufmann, Joseph Calleja,…

Dù vẫn tiếp tục có những buổi diễn thành công nhưng hào quang rực rỡ trước đây của Alagna đã suy giảm và cuộc hôn nhân với Gheorghiu rồi cũng chính thức tan vỡ sau nhiều lần dùng dằng, níu kéo. Tuy vậy, những bản thu âm trong thập niên 2 thập niên trước (đặc biệt là những bản thu với người vợ cũ xinh đẹp, soprano Angela Gheorghiu) vẫn luôn là những bản ghi âm đáng nhớ và được nhiều nhà phê bình đánh giá cao.

Bản thu được chọn làm phụ đề giới thiệu ở đây nằm trong concert rất thành công tại Paris năm 2001 của Alagna – năm đỉnh cao trong sự nghiêp của anh. Trong phần lời hai, Alagna đã trình diễn phiên bản biến tấu khá thú vị, nhưng ít được sử dụng với phần ornament (điểm note trang trí) đặc biệt do chính Donizetti viết.

Rigoletto – quartet: “Bella figlia dell’amore”

12222.jpg

Những bản hợp ca là một điểm khác biệt khá độc đáo, xét từ góc độ sân khấu giữa opera và kịch nói. Khi một bản hợp ca cất lên, các nhân vật có khả năng thể hiện tâm trạng, suy nghĩ, cảm xúc cá nhân tại cùng một thời điểm. Đây là điều rất khó xảy ra với kịch nói. Chính Victor Hugo đã phát hiện ra điểm lý thú này và khen ngợi hết mực tài năng của Verdi ngay sau khi xem xong vở Rigoletto (kịch bản dựa trên chính vở kịch “Le roi s’amuse” – “Trò tiêu khiển của nhà vua” của Hugo).

Có lẽ Hugo đã nói về bản quartet (hợp ca 4 người) “Bella figlia dell’amore”, một trong những quartet nổi tiếng nhất trong opera. Bối cảnh như sau: Gã Công tước sở khanh buông lời ong bướm ngay khi gặp ả gái giang hồ Maddalena gợi tình, nóng bỏng. Maddalena tỏ ra là một cô nàng từng trải, nửa như hờ hững, bông đùa, nửa như mời gọi, lả lơi. Ở một góc khuất, hai cha con Rigoletto trân trối nhìn cảnh vẽ vãn vờn đuổi lố bịch này. Gilda trong trắng ngây thơ hồi tưởng lại những lời tình đường mật y chang mà gã Công tước đã tán tính cô trước kia, trong lòng dâng lên bao nỗi niềm cay đắng, bẽ bàng. Lão hề gù Rigoletto vừa dịu dàng vỗ về an ủi con gái vừa cố gắng kìm nén lòng căm hận và khát khao muốn tên đểu cáng phải bị trả giá xứng đáng… Một quartet ngắn rất xuất sắc và đầy kịch tính.

Maddalena là một nhân vật mezzo phản diện điển hình (sexy, ma mãnh, thủ đoạn) khá thú vị, nhưng rất tiếc, Verdi lại không tập trung khắc họa đậm nét và dành cho nhật vật này những aria quan trọng. Phần âm nhạc ấn tượng nhất cho Maddalena chính là trong quartet “Bella figlia dell’amore”, khi những tiếng cười khanh khách mỉa mai của ả như quấn quít với bản serenade của gã Công tước đàng điếm.

“Trong số những nhà soạn nhạc, kể cả trước đây hay bây giờ, tôi là người ít được học hành nhất. Ý tôi ở đây là ít được học hành một cách bài bản, chứ tôi không nói về kiến thức âm nhạc.” Verdi đã thú nhận một cách đấy tự tin như vậy về bản thân mình. Thực tế, Verdi đã học hỏi rất nhiều từ những nhà soạn nhạc trước mình như Bellini, Rossini và đặc biệt là Donizetti – những người đã thiết lập nên trường phái Opera Belcanto lừng danh đầu thế kỉ XIX.

Điểm khác biệt lớn nhất giữa những tác phẩm thời kì đầu và thời kì sau này đó là sự gắn kết giữa tính kịch sân khấu, tính cách, cảm xúc nhân vật với âm nhạc đã trở nên cực kì khăng khít, thuần thục. Đến những tác phẩm thời kì cuối, ông đã gần như dứt ra khỏi sự ảnh hưởng của Bel canto và tạo cho mình 1 phong cách độc lập hoàn toàn.

Rigoletto không chỉ nằm trong số những kiệt tác bất hủ của Verdi mà nó có thể coi là cột mốc ranh giới mở ra thời kỳ sáng tác thứ 2 của nhà soạn nhạc opera vĩ đại người Ý – thời kỳ mà ông đã tự tìm ra phong cách riêng, con đường riêng cho mình. Phần thể hiện “Bella figlia dell’amore” dưới đây trong một production “đội hình toàn sao” năm 2006 với sự tham gia của giọng coloratura soprano tài năng người Rumania – Elena Moșuc, giọng tenor trẻ đang lên người Ba Lan – Piotr Beczała và đặc biệt là một trong những Rigoletto nổi bật nhất của thế hệ này, Leo Nucci.

Tài năng và nhân cách.

Mấy hôm nay  ngồi nghe lại vài bản thu âm của Di stefano nên tự dưng nổi hứng… Tôi có nhiều entry còn chưa giải quyết hết, trong số đó có cái cục gạch này.

Giuseppe di Stefano (1921 – 2008)

Giusseppe di Stefano là 1 trong những tenor tôi biết đến sớm nhất. Đó là từ bản Tosca huyền thoại nổi tiếng năm 1953 của EMI (cùng Callas, Gobbi và de Sabata). Tôi đã mua nó cùng thời kì với bản Carmen (Domingo/Migenes), Il barbiere di siviglia (Alva/Berganza/Prey/Abbado), Aida (Tebaldi/Bergonzi/Simionato/Karajan). Ấy những vở opera đầu tiên mà tôi có – toàn bộ là CD chép của VN hoặc CD Tàu lòng vàng- giá đồng hạng 10.000 vnđ/cd – mức giá tôi có thể sẵn sàng bỏ tiền ra cho việc mua CD nhạc vào thời điểm năm thứ 2 đại học, khi tôi mới bắt đầu tiếp cận opera và nhạc cổ điển. Điều bùn cười là vở Aida tôi chỉ kiếm được CD2, còn Tosca chỉ kiếm đc CD1 , CD opera hồi đó k0 hề phổ biến (sau này tôi kiếm đc CD1 của Aida ở chợ Trời nhưng CD2 của Tosca mãi tôi mới tìm được).  Số CD của tất cả 4 bộ đấy giờ đều đã hỏng, phần lớn tôi đã tìm down/mua lại để bổ sung.

Download: Dammi i colori… Recondita armonia – Tosca – Giacomo Puccini

Giuseppe di Stefano (tenor)

Melchiore Luise (baritone)

Victor De Sabata (Conductor)

Orchestra Del Teatro Alla Scala.

Recorded in August 1953.

Kể rông dài là thế, chỉ có mục đích nhấn mạnh lại cái câu: tôi biết đến Giusseppe di Stefano từ khá sớm. Thế nhưng, không phải tôi đã thích luôn. Tosca -1953 là bản thu âm đc thực hiện trong thời kì hoàng kim của giọng hát Di stefano (50s), nhưng tôi lại ấn tượng nhiều hơn với Franco Corelli, Jussi Bjorling, L.Pavarotti và P.Domingo ở cái thời kì mới nghe nhạc ấy.  Ấn tượng của tôi lúc ấy là về vấn đề nhân cách nhiều hơn là giọng hát của ông. Giuseppe di Stefano xuất hiện như một phản ví dụ điển hình trong bài học về đạo đức thầy-trò, đạo đức nghệ sỹ opera trong quyển “Giáo trình sư phạm thanh nhạc” của GS.NSND Trung Kiên – quyển sách về opera đầu tiên mà tôi đọc. Tôi k chắc chắn tất cả thông tin trong quyển giáo trình ấy là chính xác, nhưng những giai thoại về tính tình đồng bóng, thích nổi tiếng, thích được tung hô, chăm bẵm , hay kèn cựa với các prima donna (Callas, Crespin,…) khi ở đỉnh cao của sự nghiệp của di Stefano vốn đầy rẫy trong hồi kí các nghệ sỹ. Trước khi qua đời, Bjorling đã từng một lần thừa nhận rằng, Di stefano sẽ là giọng tenor xuất sắc nhất trong thế hệ nếu ông thực sự quan tâm đến sự nghiệp của mình.

Di stefano nổi tiếng và được phát hiện khá sớm ngay từ những năm 40s.  Ông từng được 1 người giáo viên tư nhận riêng về đào tạo học tại gia (Đôi khi những người giáo viên tư  tại Ý thời ấy lại nắm sâu sắc kĩ thuật hát truyền thống và có kỹ năng sư phạm xuất sắc hơn cả những giáo sư thanh nhạc tài tăng nhất của các nhạc viện danh tiếng ở Milan, Venice,… 1 truyền thống sư phạm rất thú vị của Ý là những học sinh xuất sắc thường được các giáo viên nhận về dạy riêng, sống cùng gia đình họ, và Di stefano là một trong số đó).  Xuất thân trong gia đình bình dân, sớm nổi tiếng, kiếm được nhiều tiền, Di Stefano nhiễm phải bệnh ngôi sao. Ông rũ bỏ quá khứ và phủ nhận cả người thầy thủơ hàn vi. Sự tham vọng bước đến vị trí số 1, cuộc sống hào nhoáng, phù phiếm của 1 ngôi sao quyến rũ Di stefano nhiều hơn là việc quan tâm đến giọng hát tuyệt đẹp của mình. Di stefano nhận nhiều vai nặng, vai kịch tính rồi giọng hát nhanh chóng suy tàn khi chưa đầy 40t – thời kí đáng lẽ là đỉnh cao nhất đối với mọi ca sĩ opera. Những lần xuất hiện sau này có thể khiến nhiều người hâm mộ giọng hát ông phải nhỏ lệ vì tiếc nuối.

Khi giọng hát di Stefano mới xuất hiện trên bầu trời opera, người ta như tìm thấy một chuẩn mực mới của vẻ đẹp tenor Ý.  Toti dal Monte – soprano Ý nổi tiếng trước ww2 từng nói rằng: Tôi không thể cầm được nước mắt trước giọng hát tuyệt đẹp của Di Stefano. Tôi k0 có trái tim nhạy cảm như  dal Monte, nhưng cũng đã bị ấn tượng mạnh mẽ trước những bản thu âm mono thời kì đầu của di Stefano. Giọng hát tròn đầy,  các note cao sáng rực rỡ với  âm sắc Ý truyền thống đẹp hơn tất cả những tenor Ý tài năng trong thời kỳ của ông (M.del Monaco, F. Corelli, C.Bergonzi, G.Raimondi,…). Di Stefano rõ ràng là một tài năng thực sự, thế nên tôi k0 hề bất ngờ khi những giọng tenor đẹp nhất thế hệ sau như  Pavarotti, Carreras đều tỏ ra ngưỡng mộ tài năng của Pipo dù ông chỉ đứng trên đỉnh cao trong khoảng 10 năm và chưa bao giờ thực sự ở vị trí số 1. May mắn là EMI đã kịp capture đầy đủ 10 năm vinh quang này của Di Stefano với những bản ghi âm đáng nhớ như Tosca, Rigoletto, Lucia Di Lammermoor, La Boheme, Il Trovatore (tất cả đều với Callas).

Download: La donna è mobile – Rigoletto – Giuseppe Verdi

Giuseppe di Stefano (Tenor)

Renato Cellini (Conductor)

Palacio de Bellas Artes Orchestra.

Recorded live on 22nd June 1948.

Đây là bản thu âm live năm 1948  của 1 di Stefano mới 27t . Chất lượng âm thanh tệ hại không che mờ được giọng hát tươi rói với âm sắc tuyệt đẹp và note Si kết huy hoàng, chắc nịch. Trong câu nhạc “Muta d’accento e di pensier!” (Các nàng đổi giọng, đổi cả nghĩ nghĩ suy), giống như hầu hết các lần thể hiện sau này, di Stefano thực hiện Diminuendo từ forte thành 1 note nhạc pianisimo đẹp như mộng – khả năng gần như biến mất khi Di Stefano bước vào thập niên 60. Di Stefano đã bis ngay trên sân khấu trước sự phấn khích điên cuồng của khán giả. “La donna è mobile” vốn là một aria đơn giản, không quá khó, nhưng cũng chính Stravinsky từng nhận định rằng :”Có nhiều chất lượng và sáng tạo thực sự trong aria “La dona è mobile” hơn là sự khoa trương om sòm ở “Ring” của Wagner.”  Bản thu âm này của Pipo là bản thu âm “La donna è monile” yêu thích nhất của tôi.

Download: Porquoi me réveiller? – Werther – Jules Massenet.

Giuseppe di Stefano (Tenor)

Franco Patane (Conductor)

Zurich Tonhalle Orchestra.

Recorded in 1959.

Download: Non piangere Liù – Turandot – Giacomo Puccini.

Giuseppe di Stefano (Tenor)

Franco Patane (Conductor)

Roma Orchestra dell’Accademia Nazionale di Santa Cecilia.

Recorded in 1959.

Decca sử dụng 2 bản thu âm năm 59 của ông trong hợp tuyển album 10 top tenors. Có thể coi như đây là những bản thu âm bản lề giữa 2 thời kì giọng hát của Di Stefano. Một Werther lãng mạn vơí “Pourquoi me reveiller” và 1 heroic Calaf trong “Non piangere Liu” – tác nhân làm thay đổi chất lượng giọng hát của Di Stefano. Ngay trong bản thu âm này cũng đã thấy ít nhiều sự nặng nề, mệt mỏi ở giọng hát Pipo. Nên nhớ, khi ấy Di Stefano chỉ mới 38t!

Download: Celeste Aida – Aida – Giuseppe Verdi.

Giuseppe Di Stefano (Tenor)

Bruno Bartoletti (Conductor)

Florence Maggio Musicale Orchestra.

Recorded in June 1962.

Di Stefano chỉ thực hiện 1 bản ghi âm duy nhất cho DG – 1 recital album vào năm 62 khi giọng hát đã bắt đầu giảm sút. Không thể tin nổi 1 giọng tenor mới chớm 40t mà âm sắc đã nặng nề khô cứng còn những note cao thì trơ rỗng vô hồn.

Và đến thập niên 70s, khi bước vào tuổi 50 thì những note pianissimo kì ảo ngày nào chỉ còn lại như thế này thôi…

Download: Vainement, ma bien aimée – Roi D’Ys  – Èdouard Lalo.

Giuseppe di Stefano (Tenor)

Robert Sutherland (Piano).

Recorded on 13th May 1974.

Tôi không biết nhiều con người của Stefano, cũng không có suy đoán tưởng tượng gì cả. Ông không hẳn là fav tenor của tôi, dù ít nhiều tôi cũng có những bản thu âm yêu thích với sự tham gia của ông. Cứ tạm cho những gì tôi đọc về ông là đúng đi. Cứ cho là ông k phải là một nhân cách mẫu mực đi. Nghệ sỹ vốn thường không phải là những điển hình về nhân cách cao đẹp, thậm chí họ có nhiều tính cách xấu như Ích kỷ, tham vọng, hay tự ái, không ổn định,… thế nên cũng chỉ cần nhìn nhận họ ở vai trò của họ thôi – vai trò trong nghệ thuật.

11 greatest voices in XX century by Figaro và 1 sự khách quan (cứ cho là) giả lập

Mềnh biết là nhiều bạn khoái các thể loại danh sách , nên sang năm mới 2011 quyết định lập ra 1 list 11 nghệ sỹ opera và thanh nhạc cổ điển xuất sắc nhất của thế kỉ 20 (theo ý kiến chủ quan), coi như là 1 tổng kết nho nhỏ sau một thời gian nghe và tìm hiểu về opera.

Danh sách đầu tiên là danh sách dựa trên tiêu chí tên tuổi, tầm ảnh hưởng , vị trí, tài năng của nghệ sỹ đối với opera và thanh nhạc cổ điển thế kỷ 20. (của tkỷ 20 vì trước đấy thì thiết bị ghi âm chưa phát triển, còn sau đấy thì còn quá sớm để đánh giá các nghệ sỹ trẻ). Đây không phải list những nghệ sỹ yêu thích vì quá nửa nghệ sỹ trong list này k0 nằm trong fav artists của tớ, danh sách fav artists sẽ giới thiệu sau. Nói túm lại là nó cũng hơi lý tính (tất nhiên đánh giá, lựa chọn vẫn có tí cảm tính, vì chẳng có cái list cá nhân nào mà không có sự  chủ quan cả). Cũng nói thêm đây là list của thời điểm hiện tại, dựa trên kiến thức và những gì tớ đã nghe trong suốt thời gian qua, còn sau này, có thể vị trí và nhân sự của list trên sẽ có ít nhiều thay đổi, nhưng đấy là chuyện của sau này… Giờ xin mời nghía qua.

1. Maria Callas (1923-1977) soprano

2. Enrico Caruso (1873-1921) tenor

3. Placido Domingo (1941) tenor

4. Feodor Chaliapin (1873 – 1938) bass

5. Joan Sutherland (1926 – 2010) soprano

6. Dietrich Fischer-Dieskau (1925) baritone

7. Kathleen Ferrier (1912-1953) contralto

8. Kristen Flagstad(1895-1962) soprano

9. Leontyne Price (1927) soprano

10. Tito Gobbi (1913-1984) baritone

11. Christa Ludwig (1928) mezzo-soprano

—————————-

1. Maria Callas (1923-1977) soprano

Tôi hoàn toàn có thể nghi ngờ sự tin cậy của bất cứ  list greatest operatic artists nào không nhắc đến Callas, thậm chí là nếu không phải ở vị trí đầu tiên. Với vinh quang gần như  chỉ nằm trong khoảng hơn chục năm (thời kì đỉnh cao nhất là1953-1964) nhưng Callas đã trở thành tượng đài vĩ đại nhất của thánh đường opera. Tôi chưa bao giờ thấy 1 nghệ sỹ nào tỏ vẻ nghi ngờ tài năng cũng như vị trí của Callas, còn những cái tên bày tỏ sự ngưỡng mộ, và thú nhận bị ảnh hưởng, thậm chí phát rồ vì Callas thì k0 kể xiết (Schwarzkopf, Sutherland, Gencer, Caballe, Pava, Sass, Bartoli, Dessay, Netrebko, Urmana,…) Mỗi thế hệ nghệ sỹ opera, người ta lại cố gắng tìm kiếm người có thể kế vị, một new Callas, nhưng chưa ai dám nghĩ đến việc thay thế Callas. Trước và sau thời kì đế chế của Callas có không ít giọng hát đẹp hơn, tài năng không kém, và thậm chí có cả người mà Callas ngưỡng mộ (như  Rosa Ponselle), nhưng không có một người nào đạt đến vị trí tối thượng như  Callas. Ngay cả những nghệ sỹ lựa chọn trong danh sách này, tôi đều lấy từ Callas làm chuẩn, keke.

Đối với riêng tôi, Callas là ca sĩ opera đầu tiên mà tôi nghe và khiến tôi đến với opera. Thú thực là không phải tôi đã bị hấp dẫn ngay, vì âm sắc giọng hát hơi quá nặng đối với taste của một đứa chưa biết gì về opera giống như tôi lúc đó, nhưng tôi đã bị ấn tượng rất mạnh và rồi dần dần bị cuốn hút. Tôi lúc ấy, không biết thế nào là một giọng hát đẹp, không biết cái aria kia, cái duet này nói về cái quái gì, không biết kĩ thuật x,y,z là cái fuckin gì, hoàn toàn là tờ giấy trắng. Kể cả gần 1 năm sau khi nghe cái collection album La Divina của Callas (album đầu tiên mà tôi có) và đã bị Callas bỏ bùa, tôi cũng còn chả hiểu aria Vissi d’arte là về gì. Callas đã bắc cái cầu đầu tiên đưa tôi đến với thế giới opera, để tôi tìm hiểu, yêu thích. “Tình yêu lớn là Caballe còn tình yêu đầu tiên là Callas” – Mr Cò đã nói về tôi như vậy trong một lần hồi box nhạc chúng tôi mới gặp gỡ nhau. Thường thì người ta chỉ nhớ đến mối tình đầu tiên và cuối cùng mà thôi.

Callas cũng là nghệ sỹ đầu tiên mà tôi viết Tiểu sử cho trang nhaccodien.info. Tôi đã đọc về Callas một cách say mê, viết một cách say mê với một cảm xúc ngây ngô đầy nhiệt tình … Bây giờ tôi không dám đọc lại bài đấy nữa, vì tôi biết là tôi đã chả hiểu gì về Callas cả. Tôi nhớ dịch giả Thúy Toàn từng thú nhận đại ý rằng nếu biết trước về Pushkin thì đã không dám dịch “Tôi yêu em” nữa, tôi k0 dám so sánh với Thúy Toàn, nhưng quả thật tôi thấy là tôi đã …liều quá.

Tôi vẫn chưa dám viết một entry về Callas, mỗi một lần nghe lại Callas lại là một xúc cảm khác, và chưa bao giờ có thể định hình lại một cách rõ nét để viết. Nhưng chắc chắn là , chưa thể đóng cửa blog này trước khi có 1 entry về Callas.

Tôi nghĩ không một vai diễn nào, kể cả Tosca, khắc họa rõ nét con người, tính cách và tài năng của Callas hơn Norma. Cái khoảnh khắc khi Callas cất giọng hát những note nhạc đầu tiên trong aria ”Casta Diva”, Callas đã tỏa sáng như 1 La Divina (nữ thần). Bản thu âm studio “Casta Diva” năm 1960 (nằm trong complete Norma thực hiện với F.Corelli, C.Ludwig dưới đũa chỉ huy của nhạc trưởng T.Serafin) là bản thu âm nổi tiếng và phổ biến nhất của Callas. Vâng,  hãy nghe đi để thấy rằng dù Sutherland tuyệt vời, Caballe tuyệt vời, Gencer tuyệt vời, Sills tuyệt vời, nhưng Norma chỉ có thể là Maria Callas.

Download: Casta Diva – Norma – Bellini

Maria Callas (Soprano)

Tullio Serafin (Conductor)

Orchestra e Coro del Teatro alla Scala

Recorded in 1960

2. Enrico Caruso (1873-1921) tenor

Vị trí thứ 2 và 3 luôn làm tôi đau đầu. Giữa Caruso và Domingo, chọn ai đây? Một người là “King of Singing”, một người là “King of Opera”… Nhưng cuối cùng tôi đã chọn Caruso.  Tôi cho rằng những gì Domingo đang làm ở sườn dốc của sự nghiệp mang ít nhiều tính thương mại và tham quyền cố vị (xin đừng bash tôi vì nhận định này).

Giống như trường hợp của Callas, mỗi tenor thế hệ sau, đều phải chịu sức ép so sánh đối với Caruso. Caruso cũng không phải một giọng hát hoàn hảo, nhưng đã trở thành một biểu tượng, một thứ như là chuẩn mực đối với một giọng tenor. Caruso là ca sĩ đầu tiên có sự nghiệp và tên tuổi rộng khắp trên toàn thế giới, là ca sĩ ngôi sao đầu tiên của kỷ nguyên ghi âm. Hình ảnh Caruso trong vai Canio đã vượt khỏi opera và trở thành một biểu tượng văn hóa. Tôi lựa chọn bản thu âm “Vesti la giubba” năm 1907 – bản thu âm nổi tiếng nhất của Caruso với aria này và cũng là trích đoạn nổi tiếng nhất của Caruso.

Download: Recitar! mentre preso dal delirio… Vesti la giubba – Pagliacci – Leoncavallo

Enrico Caruso (Tenor)

Condutor and Orchestra – Unknown

Recorded in 1907

3. Placido Domingo (1941) tenor

Tôi không muốn nói nhiều (vì đã nói quá nhiều) về Domingo. Việc ông nằm trong list này là chắc chắn, cái tôi lăn tăn chỉ là ông nằm vị trí thứ mấy thôi. Ngoài Callas ra, không một nghệ sỹ nào có tầm ảnh hưởng lớn trong opera như Domingo, cũng không một nghệ sỹ nào ở trên đỉnh trong thời gian dài như  Domingo. Cái người ta tò mò bây giờ là Domingo sẽ kết thúc sự nghiệp của mình như thế nào để xứng đáng như 1 Legend. Nếu bạn bảo nghệ sỹ yêu thích nhất của bạn là Domingo, dù có thể người ta không đánh giá cao bạn, nhưng sẽ không ai bảo bạn có gout tồi cả.

Xin phép được dùng lại bản ghi âm năm 1978  “Niun mi tema” vì đã một lần giới thiệu rồi. Ngay cả khi đã nghe lại không biết bao nhiêu lần, vẫn sởn da gà trước tiếng thét từ tận cùng đau đớn: “Desdemona! ah! morta! morta! morta!”

Download: Niun mi tema – Otello – Verdi

Placido Domingo (Tenor)

James Levine (Conductor)

National Philharmonic Orchestra

Recorded in 1978

4. Feodor Chaliapin (1873 – 1938) bass

Callas liệu có phải là acting-voice đầu tiên? Không, người đó chính là Feodor Chaliapin. Chaliapin là một trong những kịch sỹ vĩ đại nhất của nền nghệ thuật sân khấu nói chung và opera nói riêng. Cá nhân tôi cho rằng  Chaliapin là người có ảnh hưởng lớn đến trường phái thể hiện giàu tính kịch của Verismo opera. Chính ông  là người đầu tiên thay đổi thẩm mỹ thưởng thức opera của khán giả, cho khán giả thấy rằng người ta không đến nhà hát opera chỉ để nghe Hát và cũng là người đầu tiên trở thành ngôi sao opera chỉ với giọng Bass (vốn trước đây bass chỉ là những ca sĩ hát vai thứ, vai phụ). Feodor Chaliapin là cánh chim đầu đàn của nền thanh nhạc cổ điển Nga.

Vai diễn opera nổi tiếng nhất của Chaliapin là Boris Godunov với cái death scene đã trở thành một tượng đài khó thay thế. Tuy nhiên tôi chọn giới thiệu ở đây bản ghi âm nổi tiếng khác:  bài hát của gã du đãng say rượu Varlaam (cũng trong Boris Godunov) – bản ghi âm đầu tiên của Chaliapin mà tôi nghe và cho tôi một hình dung ban đầu về Chaliapin.

Download: Как во городе было во Казани (In the town of Kazan) – Boris Godunov – Mussorgsky

Feodor Chaliapin (Bass)

Rosario Bourdon (Conductor)

Orchestra – Unknown

Recorded in 1927

5. Joan Sutherland (1926 – 2010) soprano

Có thể bạn tìm thấy ít nhiều nhược điểm trong giọng hát và cách thể hiện của Sutherland, nhưng hãy thành thực đi, liệu bạn tìm được giọng hát nào có vẻ đẹp âm thanh thuần túy lộng lẫy hơn  Sutherland? Nếu nhắc đến chức năng nguyên thủy của giọng hát trong Opera thì hãy nhớ rằng Joan Sutherland là cái đỉnh cao nhất. Ngay cả Callas còn phải thốt lên rằng: “Cô ấy đã vất bỏ sự nghiệp của tôi lại phía sau 100 năm”.  Giọng hát của Sutherland là một điều kỳ diệu, nó làm bạn quên đi tính kịch trong opera, thậm chí quên đi cả âm nhạc, tất cả chỉ còn lại vẻ đẹp tuyệt đối của âm thanh giọng hát. Nhưng điều đó là ưu hay nhược điểm? Nó giúp Sutherland luôn nằm trong danh sách những ngệ sỹ opera quan trọng nhất của thế kỉ, nhưng cũng vì nó mà bà không bao giờ có thể ở vị trí đầu tiên…

La Stupenda Joan Sutherland có quá nhiều bản thu âm must have, chắc chắn tôi sẽ giới thiệu trong 1 entry gần đây. Nếu thực sự yêu thích vẻ đẹp âm thanh giọng hát thì không thể bỏ qua album huyền thoại “The art of prima donna” với  note e3 đẹp nhất trong lịch sử ghi âm (với cá nhân tôi) trong Aria/Cabaletta: Bel raggio lusinghier…Dolce pensiero (từng được giới thiệu ở đây). Giờ  xin phép đc giới thiệu 1 aria/cabaletta ít phổ biến hơn của Sutherland, aria của Odabella trong vở Atilla của Verdi. Bản thu âm năm 1963 không chỉ capture đầy đủ  những note cao đẹp lộng lẫy của Sutherland mà còn cho thấy một Sutherland kịch tính mang màu sắc Callas (ngừoi đã khích lệ Sutherland theo đuổi coloratura reprtoire) như thế nào. (Những bản thu âm tkì đầu 60s của Sutherland nghe kịch tính và rực lửa hơn hẳn những bản thu âm sau này kể cả so với những bản ghi âm aria Wagner hay Turandot)

Download: Santo di patria… Allor che i forti corrono – Attila – Verdi

Joan Sutherland (Soprano)

Richard Bonynge (Conductor)

London Symphony Orchestra

Recorded in 1963

6. Dietrich Fischer-Dieskau (1925) baritone

Tôi không biết bắt đầu về Fischer-Dieskau thế nào? và cũng không biết lựa chọn bản ghi âm nào để giới thiệu về ông : “Der Erlkönig”? “Winterreise” ? “Dichterliebe”? … F-D là một trong những nghệ sỹ thanh nhạc cổ điển ghi âm nhiều nhất. Tôi chưa từng thống kê những bản ghi âm của ông nhưng số đĩa lieder, artsongs mà tôi có của ông bằng cả số đĩa ca khúc nghệ thuật của các nghệ sỹ khác mà tôi có. Nhưng sự thật là ông chưa bao giờ là fav artist của tôi. Tôi thích giọng hát tuyệt đẹp của M.Goerne, thích cái cảm xúc ăm ắp trong cách thể hiện của H.Prey, thích cái cách hát thủ thỉ như kể chuyện và âm sắc mượt mà của G.Souzay, thích cái sự trẻ trung tươi roi rói đầy nhiệt huyết của F.Wunderlich, thích sự  sâu sắc đến bình thản của J.Baker, thích sự tỉnh táo đến mô phạm của von Otter, thích cái trong trẻo, tươi tắn của L.Popp, … F-D là tổng hợp của tất cả những điều đấy, là Master of Lieder, người ta không thể tìm được người có tầm vóc lớn hơn ông trong lieder nói riêng và artsongs nói chung trước cái sự nghiệp đồ sộ của F-D.  Nhưng tôi chưa bao giờ có thể tập trung nghe thật kỹ một tác phẩm mà ông thể hiện. Tôi thấy nặng nề. Dù rằng ông có một giọng baritone trữ tình rất sáng, đẹp và thuận tai. Ở mảng opera cũng vậy,  cá nhân tôi không thấy hấp dẫn trong cách thể hiện của ông với opera, hơi nhiều chất …oratorio. Tôi k0 tìm hiểu nhiều ở mảng này của ông nên không dám võ đoán, thôi cứ cho là không hợp taste đi vậy.

Tôi chọn ở đây một ca khúc khá dễ thương của Othmar Schoek. Ca khúc này có phần đệm piano nhí nhảnh cùng lời thơ trong trẻo như một bài thơ thiếu nhi, không phải là một hình ảnh nghiêm túc quen thuộc thường thấy của F-D

Download: Reiselied, Op. 12 No.1 – Schoek

Dietrich Fischer-Dieskau (Baritone)

Aribert Reimann (Piano)

Recorded in 1970

7. Kathleen Ferrier (1912-1953) contralto

Trước khi nghĩ đến Ferrier, tôi đã cố gắng lục tung toàn bộ trí nhớ của mình xem ngoài bà, còn giọng hát nào có thể chạm sâu hơn vào tâm hồn tôi không? Và tôi đã thất bại. Opera và thanh nhạc cổ điển đã mang lại cho tôi rất nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều lần xúc động đến rùng mình, sởn gai ốc, trước vẻ đẹp của âm nhạc, của âm thanh giọng hát con người. Nhưng với  mỗi bản thu âm của Kathleen Ferrier thì lại là những trải nghiệm với một cảm xúc hoàn toàn khác. Thứ âm nhạc đến từ giọng hát đặc biệt của bà không chỉ đọng lại ở đôi tai mà nó cứ len lỏi dần vào sâu thẳm phía bên trong và lơ lửng ở đấy. Tôi tin đấy không chỉ là cảm giác của riêng bản thân tôi mà của rất rất nhiều người khác đã tiếp xúc với những bản thu âm của bà. Ferrier không có 1 âm vực rộng, không có một âm lượng khổng lồ, không có kỹ thuật hát của 1 virtuoso, không có kỹ năng diễn xuất sân khấu nổi trội, nhưng Ferrier có nhạc cảm và 1 trái tim nghệ sỹ đủ để khiến tất cả những điều còn lại trở nên vô nghĩa. Bước vào con đường nghệ thuật rất muộn và lại sớm kết thúc bởi căn bệnh hiểm nghèo, nhưng gần như tất cả những bản thu âm Kathleen Ferrier để lại dù là live hay studio được thực hiện trong quảng thời gian ngắn ngủi ấy đều là một di sản vô giá của âm nhạc cổ điển. K.Ferrier là một trong không nhiều nghệ sỹ thanh nhạc cổ điển có thề trò chuyện với tâm hồn bạn qua âm nhạc. Tôi chọn bà không phải bởi vì bà là 1 contralto quý hiếm, cũng không phải vì bà nhận được sự kính trọng và yêu mến của nhiều thế hệ nghệ sỹ , nhạc trưởng tài danh, tôi chọn bà cũng chính bởi cái khả năng trò chuyện thiên bẩm ấy, dù bà không hẳn là một fav artist của tôi.

Kathleen Ferrier có nhiều bản ghi âm gắn với ít nhiều kỉ niệm của tôi, nhưng có lẽ tôi sẽ chia sẻ trong 1 entry riêng về bà. Ở đây tôi muốn  giới thiệu 1 bài hát dân ca – “Blow the wind southerly”.  “Ferrier đã vượt qua mọi định kiến, mọi lời chỉ trích từ phía những nhà phê bình để tiến hành ghi âm các bài hát (dân ca) này, những tác phẩm thanh nhac giản dị đến mức nhiều người coi là không có giá trị nghệ thuật…” (by PP)

Download: Blow the wind southerly – Northumbrian folk

Kathleen Ferrier (Contralto)

Reorded in 1949

8. Kristen Flagstad(1895-1962) soprano

Nếu chia miếng bánh Opera thành nhiều phần thì tôi cho rằng nó sẽ gồm 20% Wagner, 20% Verdi, 15% Mozart, 15% Verismo, 10% Belcanto và 10% Baroque và phần còn lại là những tác giả khác (10%). Verdi và Wagner luôn chiếm những khoanh lớn nhất trong opera và chắc chắn là trong bất cứ 1 list operatic voices nào cũng phải có ít nhất 1 Wagnerian voice. Cá nhân tôi dành vị trí Wagnerian voice trong cái danh sách của tôi cho Kristen Flagstad. B.Nilsson mới là most fav Wagnerian soprano của tôi, và tôi cũng rất thích Varnay, Crespin, Rysanek, Behrens, Norman, Meier, Hans Hotter, Vickers, Windgassen, Jerusalem,… nhưng tôi không thể xếp ai ở vị trí cao hơn K.Flagstad (kể cả L.Melchior hay L.Lehmann).

Được ghi nhận như là một trong những giọng hát có âm lượng lớn nhất trong lịch sử ghi âm, nhưng Flagstad chưa bao giờ cố biến opera Wagner thành bữa tiệc thịnh soạn của những note cao khổng lồ. R.Strauss dành tặng 4 ca khúc cuối cùng của mình, với những nét nhạc bay bổng tuyệt đẹp cho K.Flagstad, ông hẳn phải rất hiểu bà. Isolde của Flagstad là hình mẫu cho tiêu chuẩn một Wagnerian voice : cường độ, âm lượng của giọng hát phải xuất phát từ  tính kịch trong thứ âm nhạc kịch tính, và hơn hết Flagstad sở hữu  một trong những giọng hát tự nhiên đẹp nhất của lịch sử ghi âm.

Ở đây tôi chọn bản thu âm “Mild und Leise” của Flagstad năm 1948 – một trong vô số những bản thu âm  Liebestod xuất sắc khác đã trở thành thương hiệu riêng của Flagstad.

Download: Mild und leise – Tristan und Isolde – Wagner

Kirsten Flagstad (Soprano)

Issay Dobroven (Conductor)

Philharmonia Orchestra

Recorded in 1948

9. Leontyne Price (1927) soprano

Leontyne Price luôn được nhắc đến như là 1 trong những Verdian soprano xuất sắc nhất trong lịch sử. Khi tôi thưởng thức những bản thu âm để lại của bà, đặc biệt trong opera Verdi – composer yêu thích nhất của tôi, tôi không thể hòan toàn đồng ý với nhận định trên. Tôi thích 1 âm thanh Ý thuần chủng mượt đẹp kiểu Tebaldi, thậm chí Callas, Caballe, Cerquetti cũng cho nhiều trải nghiệm thú vị với âm nhạc Verdi hơn là Price. Tất nhiên không ai trong số những cái tên kể trên có thể hát Aida tốt hơn Price. “ Aida – một nhân vật hay Aida – opera đều có đầy đủ ý nghĩa, nỗi đau và những niềm riêng trong tôi. Trong nhiều khía canh, tôi tin rằng Aida chính là bức chân dung con người bên trong của tôi. Cô ấy chính là người bạn opera thân thiết nhất của tôi, tôi cảm nhận Aida một cách hết sức tự nhiên vì màu da tôi chính là phục trang của tôi. Sự thật hiển nhiên này mang lại cho tôi 1 cảm giác mạnh mẽ, cho phép tôi hoàn toàn tự do trong việc bộc lộ, diễn tả từng cử động cũng như việc diễn xuất mà những vai diễn opera khác không thể đem lại. Tôi luôn cảm thấy, mỗi khi thể hiện Aida, đó lại là một lần tôi bộc lộ con người bản thân tôi với tư cách là một người Mỹ, một người Phụ nữ và một Con Người.” Ngay cả khi giọng hát không ở trong điều kiện tốt nhất, Aida vẫn là của riêng Price, như cái cách bà cảm nhận Aida chính từ  “cái màu da quí phái của mình”. Tôi xin khẳng định Leontyne Price là Prima donna da đen đầu tiên và lớn nhất trong lịch sử opera. Không, tôi không quên Marian Anderson – contralto có ảnh hưởng lớn đến tất cả những ca sĩ cổ điển Mỹ-Phi sau này kể cả Price, cũng không quên những prima donna da màu xuất sắc khác như  G.Bumbry, S.Verrett, M.Arroyo, J.Norman, K.Battle,… Nhưng hãy nhìn vào sự nghiệp ghi âm cũng như biểu diễn của Price, chúng ta phải đồng ý rằng vị trí của bà là độc tôn và không thể thay thế.

Tôi không giới thiệu ở đây “Ritorna vincitor” hay “O patria mia” trong Aida – vai diễn đã đóng dấu bởi L.Price. Tôi biết đến Price lần đầu tiên cũng bằng Aida, và hi vọng bạn (một người vô tình đọc entry này và chưa một lần biết đến Price) hãy tự tìm kiếm Aida của Price để có một trải nghiệm như tôi. Tôi xin giới thiệu ở đây một trích đoạn khác mà Price cũng rất yêu thích và thường sử dụng làm encore trong các recital concert của mình –  màn chết của Cio-cio-san :  “Tu, tu piccolo Iddio! ” thu âm năm 1960 nằm trong “blue album” huyền thoại của Price, khi Price và giọng hát khàn đục tuyệt đẹp và độc đáo của mình đang ở thời kì rực rỡ nhất.

Download: Tu! Tu! piccolo Iddio! – Madama Butterfly – Puccini

Leontyne Price (Soprano)

Oliviero de Fabritiis (Conductor)

Rome Opera Orchestra

Recorded in 1960

10. Tito Gobbi (1913-1984) baritone

Những operatic baritone mà tôi yêu thích nhất là E.Bastianini, P.Lisitsyan và nhất là H.Prey – người tôi thường xuyên sử dụng làm avatar, nhưng không ai trong số đó xuất hiện trong danh sách này. Tôi đã chọn Tito Gobbi. Tôi không chắc Gobbi là 1 giọng hát đẹp hay một giọng hát vang lớn giàu kịch tính, uhm, cứ cho là âm sắc baritone hơi khê và bí của ông không hợp với taste của tôi đi vậy. Nhưng tôi nể phục tài năng của ông, nể phục cái cách mà ông khắc họa nhân vật bằng âm nhạc. Không bao giờ có những đọan phô diễn giọng, kỹ thuật vô nghĩa trong sự thể hiện của ông. Gobbi thực sự là một Callas baritone. Sẽ là một thiếu sót lớn nếu không theo dõi libreto, để ý bối cảnh cốt truyện, tính cách nhân vật khi nghe những bản thu âm của ông, để hiểu những nhấn nhá đầy chủ ý, những sáng tạo sâu sắc của ông ở mỗi nhân vật.

Thật không dễ dàng kể hết tất cả những vai diễn xuất sắc của ông mà không nhiều baritone sau này có thể chạm đến: Rigoletto, Rodrigo (Don Carlo), Iago (Otello) , Tonio (Pagliacci),… và đặc biệt là Scarpia – vai diễn đỉnh cao của Gobbi. Sẽ không một ví dụ nào tốt hơn “Te deum Scene “trong bản ghi âm Tosca huyền thoại năm 1953 (cùng Callas, di Stefano dưới đũa chỉ huy của nhạc trưởng de Sabata) – bản thu âm được nhiều nhà phê bình đánh giá là một trong những bản ghi âm opera xuất sắc nhất mọi thời đại. Một Scarpia nham hiểm , dâm đãng, đầy tham vọng với những toan tính độc ác hiện lên không thể rõ nét hơn.

Download: Tre sbirri, una carrozza … Va, Tosca – Tosca – Puccini

Tito Gobbi (Baritone)

Victor de Sabata (Conductor)

Orchestra e Coro del Teatro alla Scala

Recorded in 1953

11. Christa Ludwig (1928) mezzo-soprano

Tôi chốt hạ danh sách này bằng một cái tên mà tôi băn khoăn nhất : Christa Ludwig. Bà là một trường hợp đặc biệt, tôi có không ít bản thu âm cực kỳ yêu thích (Fidelio – Beethoven, Bluebeard’s Castle – Bartok, Das Lied Von Der Erde- Mahler,Tannhauser – Wagner…) nhưng bà chưa bao giờ nằm trong topfav mezzo của tôi. Rất khó lý giải. Tôi chưa thấy một bản thu âm nào của bà ở dưới mức khá, hầu như perfect. Ludwig gần như xuất sắc trong tất cả những mảng quan trọng nhất của mezzo từ Verdi đến Wagner, từ mozart đến belcanto, từ baroque đến ca khúc thính phòng. Thậm chí bà đủ ấn tượng và rực lửa để không biến cái hoàn hảo ấy trở nên đơn điệu, nhàm chán trong khi chưa bao giờ để cảm xúc chi phối đến mức để phô dù 1 note. Ludwig cũng là một trong những giọng hát Đức có âm sắc đẹp nhất mà tôi biết, và chắc chắn khó có mezzo-soprano gốc Đức-Áo nào có sự nghiệp ngang tầm Ludwig. Mezzo-soprano là type giọng tôi thích nhất và có đến hàng tá favmezzo, trong số đó có không ít người cả danh tiếng và tài năng đều chưa chắc đã bằng Ludwig (obukhova, dolukhanova, arkhipova, obraztsova, verrett, cossotto, baker, bartoli, garanca, … ).Với một giọng hát như vậy, một cá tính nghệ sỹ như vậy, sao tôi vẫn chưa thực sự rung động với nghệ thuật của bà. Thôi cứ coi như là do tôi và bà chưa phải duyên vậy…

Tôi giới thiệu ở đây aria của Leonore: “Komm, Hoffnung, laß den letzten Stern” nằm trong bản thu âm đỉnh cao Fidelio năm 1962 của nhạc trưởng Otto Klemperer (EMI) – Bản ghi âm Fidelio xuất sắc mọi thời đại – một viên ngọc quí giá của opera nói riêng và âm nhạc cổ điển nói chung.

Download: Komm, Hoffnung, laß den letzten Stern – Fidelio – Beethoven

Christa Ludwig (Mezzo-soprano)

Otto Klemperer (Conductor)

Philharmonia Orchestra of London

Recorded in 1962

————-

Chắc chắn không một list nào, dù cố gắng khách quan đến mấy cũng có thể thỏa mãn tất cả mọi người. Mỗi đánh giá đều dự trên những kinh nghiệm, kiến thức và cảm nhận khác nhau của mỗi người. Có thể sẽ có nhiều bạn thắc mắc;: giả dụ như Pavarotti – nghệ sỹ nổi tiếng và quan trọng nhất trong suốt gần nữa cuối thế kỷ 20 ở đâu? , rồi Rosa Ponselle – soprano duy nhất mà Callas ngưỡng mộ, nể phục, hay E.Schwarzkopf – queen off Lieder? hay Callas-bass Boris Christoff? Hay greatest black artist – Marian Anderson? hay Callas-only rival Tebaldi? Rồi tại sao không có Sills, Zeani thay vào đó Sutherland… Tại sao là con số 11? Vâng, như đã nói, tôi đang thử cố dựng một sự khách quan giả lập, khi tôi không bị sự chi phối của tình cảm yêu thích cá nhân (thế nên tôi đã rút Caballe, rút Nilsson,rút Bjorling … ra khỏi list này dù tên tuổi, tài năng họ k0 hề kém những ngời trên). Có thể lần tới tôi sẽ bắt đầu 1 list thứ 2 – list fav artist của riêng tôi, điều này sẽ dễ dàng hơn nhiều.

Khi tôi đứng ở góc độ một người đọc trước những danh sách, những đánh giá chủ quan, tôi có thể mặc sức phê bình và chê bôi, nhưng đứng vào vai trò một người đưa ra list cá nhân thì mới thấy quả là thực sự khó. Thế nên tôi cũng phải rào trước đón sau là “list này của thời điểm hiện tại”, coi nhưa chừa cho mình 1 đường rút, keke 😛 . Dù sao cũng thấy thỏa mãn ít nhiều vì đã cố gắng dám thử 1 lần. Nếu bạn nào ghé qua blog, đọc entry này, hi vọng có chút comment để cùng trao đổi, dù là đồng ý, phản đối, coi thường, ghi nhận,… Welcome!

A big – deep Kiss!

Frizt Wunderlich (1930-1966)

Der Kuss

Christian Felix Weisse (1726-1804)

Ich war bei Chloen ganz allein,
Und küssen wollt ich sie:
Jedoch sie sprach,
Sie würde schrein,
Es sei vergebne Müh.

Ich wagt es doch und küßte sie,
Trotz ihrer Gegenwehr.
Und schrie sie nicht?
Jawohl, sie schrie,
Doch lange hinterher.
—–

Nụ hôn

Một mình tôi với Chloen,
Và tôi muốn hôn nàng;
Song nàng lại dọa rằng
Nàng sẽ kêu toáng lên –
Thành ra công Dã Tràng.

Tôi cả gan, và hôn
Mặc dù nàng kháng cự.
Thế nàng có kêu không ?
Ồ có, nàng kêu chứ ;
Nhưng một lúc sau đấy.

Ngọc anh dịch

Hôm nay nghe lại bài này thấy kute thật, Wunderlich quá “Tuyệt vời”. Bản thu live năm 1965, nồng nhiệt và tràn đầy cảm xúc…

Download: Der Kuß, op.128  – Ludwig van Beethoven

Frizt Wunderlich (tenor)

Hubert Giesen (piano)

Recorded in 1965

Allein… Im Frühling (Trong xuân p.2)

Ian Bostridge (1964) – CBE

Càng ngày mình càng thích nghe bạn Ian Bostridge này hát Schubert. Giọng thì mảnh hơi giống kiểu Peter Pears, nhưng k0 sến như thế, thay vào đó là lối hát rất bình thản, lạnh và tỉnh táo như F-D. Cái hình ngây thơ gà mái mơ này là trong album debut của bạn ấy cho EMI, tất nhiên là lieder của Schubert. Bostridge có profile học vấn thuộc loại tương đối hoành. Cơ mà vì thế tự dưng làm mình giảm hứng thú với bạn ấy. Mình vẫn tư duy là, ca sĩ nên là những người … học dốt.

Im Frühling

Ernst Schulze (1789-1817)

Still sitz’ ich an des Hügels Hang,

der Himmel ist so klar,

das Lüftchen spielt im grünen Tal.

Wo ich beim ersten Frühlingsstrahl

einst, ach so glücklich war.

Wo ich an ihrer Seite ging

so traulich und so nah,

und tief im dunklen Felsenquell

den schönen Himmel blau und hell

und sie im Himmel sah.

Sieh, wie der bunte Frühling schön

aus Knosp’ und Blüte blickt!

Nicht alle Blüten sind mir gleich,

am liebsten pflückt ich von dem Zweig,

von welchem sie gepflückt!

Denn alles ist wie damals noch,

die Blumen, das Gefild;

die Sonne scheint nicht minder hell,

nicht minder freundlich schwimmt im Quell

das blaue Himmelsbild.

Es wandeln nur sich Will und Wahn,

es wechseln Lust und Streit,

vorüber flieht der Liebe Glück,

und nur die Liebe bleibt zurück,

die Lieb und ach, das Leid.

O wär ich doch ein Vöglein nur

dort an dem Wiesenhang

dann blieb ich auf den Zweigen hier,

und säng ein süßes Lied von ihr,

den ganzen Sommer lang.

(3-1815)

—————————-

Trong xuân

Lặng thinh tôi ngồi trên triền đồi,

Ngắm bầu trời trong trẻo,

Gió thi nhau đùa ghẹo dưới thung xanh.

Nơi những tia nắng đầu xuân an lành chiếu rọi,

Ngày xưa ấy, tôi đã từng hạnh phúc!

Xưa, em và tôi đã cùng dạo bước

Sát bên nhau, thân thiết ấm nồng.

Sâu tận trong tăm tối suối đá nguồn,

Là bầu trời sáng trong, cao rộng.

Giữa nền trời xanh lồng lộng – tôi thấy em.

Hãy nhìn xem xuân tươi xinh rực rỡ,

Đang bừng nở những mầm lá, nụ hoa.

Nhưng hoa nào với tôi cũng vậy thôi,

Em đã hái đi rồi,

Những bông hoa mà tôi thích nhất.

Vẫn như xưa, vẹn nguyên tất cả

Vẫn đồng cỏ xanh, vẫn những đoá hoa.

Ánh nắng xưa cũng chẳng bớt chan hoà.

Và dòng suối duyên dáng thướt tha

Vẫn in bóng bầu trời xanh thăm thẳm.

Nhưng ảo tưởng và lòng người đã khác,

Khao khát – đấu tranh cứ lẫn lộn vào nhau.

Vị ngọt ái ân chẳng còn đâu,

Nhưng tình yêu vẫn còn ở lại.

Ừ,còn lại tình yêu … và cả những buồn đau…

Ôi, giá chi ta là chú chim nhỏ

Ở nơi đây, trên đồi cỏ ngát xanh.

Ta sẽ đậu trên cành mà hót,

Những khúc ca dịu ngọt êm đềm,

Chỉ về em, suốt ngày hè không mỏi.

YIH Dịch

Download: Im Frühling (Op. 101, no. 1, D. 882) – Franz Schubert

Ian Bostridge (Tenor)

Julius Drake (Piano)

Recorded in 1996

Cái này mình nghĩ dịch là “trong xuân” hơn là “giữa xuân”. Thằng ku trong bài thơ này hơi …emo, bi lụy vì thất tình 1 tí, nên nhờ bạn “Xuân” vỗ về an ủi. Hi vọng mọi người có đọc bài trên tuầnvietnam sắp tới thì đừng có shock vì độ …sến, 😛 Mình chọn bản của Ian Bostridge cho tuanvietnam. Von Otter hát tốt, nhưng thứ nhất bạn ấy hát Schubert k0 hạp (mình cảm thấy thế) , thứ 2 là bạn ấy là … nữ . Và đây là lí do cho cái part 2 này