Hãy quay về và say đắm em trở lại

Prohaska-Anna-11[Monika_Rittershaus]

Anna Prohaska (1983)

Năm 1960, sau buổi diễn thành công vang dội trong vở Alcina của Handel tại nhà hát La Fenice – nhà hát từng phong tặng danh hiệu La Divina cho Maria Callas, giọng coloratura soprano xuất sắc nhất của thế kỉ XX Joan Sutherland đã được khán giả của nhà hát này xưng tụng là “La Stupenda” (Tuyệt diệu) và kể từ đấy cái tên này gắn bó với sự nghiệp của bà cho đến tận cuối đời.

Alcina kể về nữ pháp sư quyền phép và ngạo mạn đã phải chịu thất bại trước sức mạnh của tình yêu chân chính. Thực ra nội dung của vở opera này hơi lằng nhằng và ngớ ngẩn (với cá nhân ad) không dễ tiếp nhận lắm đối với khán giả hiện đại, tuy nhiên, giống như rất nhiều kiệt tác khác của Handel, Alcina có không ít những aria với giai điệu vô cùng hấp dẫn. Trước thập niên 60, Alcina vốn không phải là kịch mục phổ biến, nhưng đến nay đã có hàng chục phiên bản dàn dựng và ghi âm studio khác nhau và trở thành một trong những vở opera được biết đến nhiều nhất của Handel.

Vai thứ chính Morgana (em gái của pháp sư Alcina) có một aria rất đáng yêu là “Tornami a vagheggiar”. Joan Sutherland cực kỳ thích aria này, nên bà đã yêu cầu chồng mình, maestro R.Bonynge chuyển nó cho vai chính Alcina để mình được biểu diễn, ngay sau đó nó trở thành một trong những trích đoạn để đời của La stupenda và cũng là một trong những phần thể hiện xuất sắc nhất của aria này đến nay. (Tuy vậy phần lớn những dàn dựng sau này đều trả nó về cho nguyên bản cho Morgana)

Bạn hoàn toàn có thể search lại bản thu âm studio hoàn hảo không tì vết của Joan trên youtube, tuy nhiên hôm nay mình muốn giới thiệu phiên bản khác không hề thua kém, phiên bản của giọng soprano Đức (gốc Áo) trẻ đang lên Anna Prohaska. Anna có giọng màu sắc trữ tình khá đẹp với màu âm khác biệt, tuy âm lượng vừa phải, nhưng chính điều đó lại khiến cô trở nên rất hợp với Mozart và âm nhạc baroque. (Hãy nhớ rằng các nhà hát thời kì cổ điển trở về trước có khối tích tương đối nhỏ và dàn nhạc cũng không quá đồ sộ). Cách hát trơ, ít rung cộng với phần biến tấu và cadenza cực kỳ tinh tế ở phần “Da capo” của Anna khiến nó trở nên vô cùng tươi mát, nhẹ nhõm và thú vị.

“Tornami a vagheggiar” vốn được Handel phát triển từ môt aria được viết từ hồi ông còn trẻ, trước Alcina hơn 20 năm, trích trong bản catata “O Come chiare e belle”sáng tác từ năm 1708. Khi bắt đầu hoàn thiện Alcina, ông đã tái sử dụng và sửa chữa lại aria này. Aria nằm ở cuối màn I, khi Morgana, em gái của nữ pháp sư Alcina, thể hiện tình cảm mình với hiệp sĩ Ricciardo, một người nữ giả trang mà Morgana không hề biết. Ricciardo thực chất chính là Bradamante, vị hôn thê của Ruggiero – người đang bị mê hoặc bởi phép thuật và sắc đẹp của Alcina, cô tìm đến hang ổ của chị em Alcina để tìm cách giải cứu cho người mình yêu.

Ngay từ khi được biểu diễn lần đầu tiên, bởi giọng soprano Anh nổi tiếng đương thời – Cecilia Young, “Tornami a vaghegiar” đã rất được khán giả yêu thích. Johann Mattheson, một người bạn Handel, từng mô tả nó là “rất dễ chịu” và “tươi tắn”, với những chuỗi note nhạc melisma nối tiếp nhau cứ bay lên cao dần. Giống như kết cấu của phần lớn các “Aria da capo” thời kì baroque (“Da capo” tiếng Ý có nghĩa là “quay trở lại từ đầu”), “Tornami a vagheggiar” gồm 3 phần: phần đầu giới thiệu giai điệu chính, phần thứ 2 là chuyển điệu, và phần ba – “da capo” (nhắc lại phần đầu), tuy nhiên nó không được “nhắc lại” một các thông thường mà sẽ được các nghệ sỹ virtouso thêm vào nhiều biến tấu, các note trang trí hoa mĩ và các cadenza độc đáo riêng để phô diễn khả năng thanh nhạc, thẩm mĩ và kĩ thuật cá nhân của mỗi người.

Advertisements

Rigoletto – quartet: “Bella figlia dell’amore”

12222.jpg

Những bản hợp ca là một điểm khác biệt khá độc đáo, xét từ góc độ sân khấu giữa opera và kịch nói. Khi một bản hợp ca cất lên, các nhân vật có khả năng thể hiện tâm trạng, suy nghĩ, cảm xúc cá nhân tại cùng một thời điểm. Đây là điều rất khó xảy ra với kịch nói. Chính Victor Hugo đã phát hiện ra điểm lý thú này và khen ngợi hết mực tài năng của Verdi ngay sau khi xem xong vở Rigoletto (kịch bản dựa trên chính vở kịch “Le roi s’amuse” – “Trò tiêu khiển của nhà vua” của Hugo).

Có lẽ Hugo đã nói về bản quartet (hợp ca 4 người) “Bella figlia dell’amore”, một trong những quartet nổi tiếng nhất trong opera. Bối cảnh như sau: Gã Công tước sở khanh buông lời ong bướm ngay khi gặp ả gái giang hồ Maddalena gợi tình, nóng bỏng. Maddalena tỏ ra là một cô nàng từng trải, nửa như hờ hững, bông đùa, nửa như mời gọi, lả lơi. Ở một góc khuất, hai cha con Rigoletto trân trối nhìn cảnh vẽ vãn vờn đuổi lố bịch này. Gilda trong trắng ngây thơ hồi tưởng lại những lời tình đường mật y chang mà gã Công tước đã tán tính cô trước kia, trong lòng dâng lên bao nỗi niềm cay đắng, bẽ bàng. Lão hề gù Rigoletto vừa dịu dàng vỗ về an ủi con gái vừa cố gắng kìm nén lòng căm hận và khát khao muốn tên đểu cáng phải bị trả giá xứng đáng… Một quartet ngắn rất xuất sắc và đầy kịch tính.

Maddalena là một nhân vật mezzo phản diện điển hình (sexy, ma mãnh, thủ đoạn) khá thú vị, nhưng rất tiếc, Verdi lại không tập trung khắc họa đậm nét và dành cho nhật vật này những aria quan trọng. Phần âm nhạc ấn tượng nhất cho Maddalena chính là trong quartet “Bella figlia dell’amore”, khi những tiếng cười khanh khách mỉa mai của ả như quấn quít với bản serenade của gã Công tước đàng điếm.

“Trong số những nhà soạn nhạc, kể cả trước đây hay bây giờ, tôi là người ít được học hành nhất. Ý tôi ở đây là ít được học hành một cách bài bản, chứ tôi không nói về kiến thức âm nhạc.” Verdi đã thú nhận một cách đấy tự tin như vậy về bản thân mình. Thực tế, Verdi đã học hỏi rất nhiều từ những nhà soạn nhạc trước mình như Bellini, Rossini và đặc biệt là Donizetti – những người đã thiết lập nên trường phái Opera Belcanto lừng danh đầu thế kỉ XIX.

Điểm khác biệt lớn nhất giữa những tác phẩm thời kì đầu và thời kì sau này đó là sự gắn kết giữa tính kịch sân khấu, tính cách, cảm xúc nhân vật với âm nhạc đã trở nên cực kì khăng khít, thuần thục. Đến những tác phẩm thời kì cuối, ông đã gần như dứt ra khỏi sự ảnh hưởng của Bel canto và tạo cho mình 1 phong cách độc lập hoàn toàn.

Rigoletto không chỉ nằm trong số những kiệt tác bất hủ của Verdi mà nó có thể coi là cột mốc ranh giới mở ra thời kỳ sáng tác thứ 2 của nhà soạn nhạc opera vĩ đại người Ý – thời kỳ mà ông đã tự tìm ra phong cách riêng, con đường riêng cho mình. Phần thể hiện “Bella figlia dell’amore” dưới đây trong một production “đội hình toàn sao” năm 2006 với sự tham gia của giọng coloratura soprano tài năng người Rumania – Elena Moșuc, giọng tenor trẻ đang lên người Ba Lan – Piotr Beczała và đặc biệt là một trong những Rigoletto nổi bật nhất của thế hệ này, Leo Nucci.

Wagnerian soprano Astrid Varnay

22

Astrid Varnay (1918-2006)

“…Tôi muốn đưa ra một ví dụ về việc đặt cạnh nhau giữa 2 kiểu nhân vật nữ của Wagner: Elsa và Ortrud trong vở opera “Lohengrin”. Elsa cần phải được bảo vệ bởi ai đó và cô ấy không đủ tự chủ để có thể tự giải cứu chính mình. Nhân vật nữ đối đầu của cô ấy, Ortrud, thì ngược lại, tất cả đều nằm trong tầm tay của bà ta, bà ta sử dụng trí thông minh sắc sảo của mình để chiếm đoạt lợi thế. Có gì đó cực kỳ đàn ông trong sự sùng kính một lòng với niềm tin tôn giáo và cái tham vọng bá quyền của bà ấy, nhưng dĩ nhiên bà ấy cũng thừa sự gợi cảm rất đàn bà đủ để có thể mê hoặc dẫn dụ được một Telramund đứng đắn nghiêm nghị cùng chung mục đích với bà ta.

Quan điểm cá nhân của tôi, khắc họa Ortrud là một phù thủy đơn thuần hoàn toàn không đúng. Cách thể hiện đấy không thể đi sâu vào bản chất cốt lõi bên trong tính cách nhân vật. Thực chất Ortrud sùng kính với đức tin của bà ấy cũng giống như Lohengrin với tôn giáo của anh ta, và ma thuật mà bà ta thực hiện là một phần thuộc về đức tin tôn giáo của bà ấy. Ortrud là người sót lại cuối cùng của một triều đại vương quyền đã từng kiểm soát vùng đất đó. Bà ta quyết giành lại được quyền lực cai trị vốn thuộc về bà ta và xác lập lại tín ngưỡng đã từng bị vùi lấp hàng thế kỷ tại nơi này. Tôi cảm nhận bà ta là một người đàn bà độc lập và hãnh tiến, nhưng lại là người mà, trong giai đoạn đầu Trung Cổ, vốn được trao rất ít quyền lực, cũng không được phép đưa ra yêu sách hay được hành động giống như một đấu sĩ. Đó là lý do vì sao bà ấy cần một người đàn ông mạnh mẽ – người mà bà ta có thể dùng trí thông minh tuyệt đỉnh và sự quyến rũ chết người của mình để điều khiển theo cách bà ấy muốn, với hi vọng sau rốt là có thể thiết lập lại sự hưng thịnh tín ngưỡng truyền thống cũng như cái dòng dõi thế gia của bà ta. Tất cả những hành động của bà ấy đều có thể bao biện được trừ một việc: là âm mưu hủy diệt sự sống loài người. Đó cũng chính là nơi bà ta gieo cái mầm mống hủy diệt chính mình.

Đối với tôi, vở opera Lohengrin giải quyết cuộc đối đầu giữa hai loại tín ngưỡng: “Công giáo” (Lohengrin) với “Đa thần giáo” (Ortrud), và hai thuộc tính: “Lệ thuộc” (Elsa) và “Độc lập” (cũng lại Ortrud). Hai mối xung đột ấy phải được thể hiện một cách chân thực…”
– Soprano Astrid Varnay.

——————————————————–

Lohengrin là một trong những thành công rõ nét đầu tiên của Wagner. Trong đêm công diễn lần đầu của vở opera này tại Ý, Verdi đã tỏ ra cực kỳ ấn tượng và ông lập tức yêu cầu ngay một bản tổng phổ của tác phẩm để đem về nghiên cứu.

Cốt truyện của Lohengrin dựa trên một tích truyện khá phổ biến trong văn hóa Đức, kể về chàng hiệp sỹ Lohengrin.
————-
Antwep, thời kì trung cổ, cả công quốc đang rất rối ren khi Công tước trẻ tuổi Gottfried von Brabant, người kế tự của dòng họ Brabant đột nhiên mất tích, trong khi quân Hungary chuẩn bị động binh xâm lược. Bá tước Telramund vội tung ra lời đồn quận chúa Elsa đã ám hại người em trai của mình hòng độc chiếm quyền cai quản công quốc. Khi mọi con mắt nghi ngờ đang dổ dồn vào cô gái tội nghiệp thì một chàng hiệp sĩ bí ẩn bất ngờ xuất hiện trên chiếc thuyền được kéo bới một con thiên nga. Chàng hiệp sỹ ngỏ lời cầu hôn Elsa và muốn giúp đỡ mọi người thoát khỏi tình trạng nguy kịch, nhưng chỉ với một điều kiện là không được phép hỏi đến danh tính của chàng. Elsa từng mơ thấy người anh hùng đên giải cứu mình và không ngờ giấc mơ ấy đã thành hiện thực, nàng đồng ý không chút ngại ngần.

Nhận thấy âm mưu hãm hại Elsa để tiếm quyền cai quản công quốc thất bại, Telramund vô cùng tức giận. Ortrud, vợ hắn, vốn là một phù thủy dị giáo đầy quỷ quyệt, liền tìm cách giúp đỡ chồng, mụ kích động Elsa phải tìm hiểu nguồn gốc người chồng hiệp sĩ bí ẩn bằng được. Elsa thơ ngây, trót nghe lời xúi bẩy của Ortrud, nằng nặc đòi chồng phải nói ra thân phận của mình. Chàng hiệp sĩ dù hết sức cố gắng cảnh báo vợ nhưng không thể ngăn nổi sự tò mò cố chấp của nàng.

Buồn phiền vì vợ không tôn trọng lời hứa, chàng Hiệp sĩ quyết định gọi mọi người tới và bộc lộ danh tính thực sự. Chàng là hiệp sỹ Chén Thánh Lohengrin, con của Parsifal, xuống trần để giúp đỡ Elsa và công quốc, nhưng chàng sẽ buộc phải trở về nhà nếu tự tiết lộ thân phận. Nói rồi chàng từ biệt Elsa và mọi người, quay lại chiếc thuyền thiên nga kéo. Elsa chưa kịp hết đau đớn vì sai lầm trót gây ra, thì Ortrud bất ngờ đến bên và nói ra sự thật, rằng chính con thiên nga kéo xe kia là Công tước Gottfried do mụ phù phép hóa thành và giờ thì không ai còn có thể giúp nàng nữa…
————
“Fahr heim! Fahr heim, du stolzer Helde” – Những lời nguyền rủa cay độc và đầy hả hê của Ortrud trước sự bàng hoàng kinh hãi của Elsa và mọi người, là một trong những aria đầy thách thức đối với tất cả những ca sĩ Wagnerian kịch tính. Aria sở hữu những note cao fortissimo dồn dập xuyên cắt dàn nhạc cuồng bạo, đầy kích động như một cơn bão tố điên loạn, chính bởi vậy mà mặc dù chỉ là vai thứ, nhưng một ca sĩ thể hiện Ortrud xuất sắc hoàn toàn có thể cướp đi hào quang của vai nữ chính Elsa và điều đấy đã xảy ra không ít lần.

Nguyên bản Ortrud được viết cho một giọng mezzo kịch tính có âm vực cao (tiền thân của loại giọng Wagnerian soprano sau này) và một trong những ca sĩ đầu tiên thành công với Ortrud chính là Johanna Wagner, cháu ruột của Wagner (bà cũng đồng thời cũng là người được Wagner ngắm đến cho Brunhilde – một trong những vai Wagnerian quan trọng nhất). Với đòi hỏi khắc nghiệt của tổng phổ, Ortrud thậm chí có thể coi là những Turandot hay Abigaille dành cho giọng Mezzo-soprano. Trong thực tế, cũng không nhiều mezzo nhận vai này mà nó thường được giao cho những giọng soprano kịch tính kiểu Wagner. Và một trong những Ortrud ấn tượng nhất trong lịch sử ghi âm chính là Astrid Varnay.

Với rất nhiều người Birgit Nilsson là Wagnerian soprano xuất sắc nhất nửa sau thế kỉ XX, nhưng với những người thực sự yêu thích Wagner thì Birgit Nilsson chưa chắc đã vượt qua được “người cùng thời”, Astrid Varnay. Birgit Nilsson sở hữu một giọng hát quá khác biệt, vô tiền khoáng hậu với những note Đô cao sáng rực, bùng nổ, hùng vĩ và khả năng cắt xuyên ấn tượng – điều đó khiến cho đến tận bây giờ, khó ai có thể vượt qua Nilsson trong vai nữ chiến thần Brunhilde (với cá nhân Ad). Nhưng Varnay thì khác, Varnay chạm sâu vào nhân vật hơn, bám sát kịch tính của Wagner hơn, và kích cỡ khổng lồ của giọng hát cũng không hề kém cạnh (Varnay có lẽ chỉ chịu thua Nilsson ở các note cao mà thôi).

Astrid Varnay là hiện thân toàn vẹn nhất của một giọng Wagnerian soprano thuần chất điển hình, là người kế vị thực sự của Kirsten Flagstad. Chính Kirsten Flagstad sau khi chứng kiến tận mắt khả năng hát và diễn xuất của Varnay tại Met đã tiến cử giọng soprano trẻ thay cho mình tới W.Wagner (cháu nội Wagner, người trực tiếp điều hành Bayreuth Festspielhaus – nhà hát do Wagner xây dựng đồng thời cũng là thánh đường của mọi ca sĩ Wagnerian). Tất nhiên Nilsson với giọng hát dị biệt luôn là một cơn gió mới gây sốc tại Bayreuth, nhưng Varnay (cùng với M.Mödl) mới là những nữ hoàng thực sự của nhà hát danh tiếng này. W. Wagner từng phải thốt lên rằng :”Sao lại phải cần thêm đạo cụ cây cối trên sân khấu khi chúng ta đã có Astrid Varnay ở đây rồi”,

Dù là đối thủ sở hữu chung nhiều kịch mục, nhưng Nilsson và Varnay lại luôn là những người bạn đồng nghiệp thân thiết với nhau (Nilsson và Varnay đều là người Thụy Điển và được sinh ra tại đây, dù cha mẹ Varnay là người gốc Hungary). Hai giọng Wagnerian soprano kỳ cựu rất mực nể trọng nhau và không ít lần dành cho nhau những lời nhận xét ưu ái. Nếu như Varnay thừa nhận Turandot của Nilsson là ưu tú nhất trong thời của mình, thì Nilsson sau khi hát vai chính Elsa trong Lohengrin với Varnay (Ortrud), đã chủ động loại bỏ Ortrud trong kịch mục biểu diễn vì cho rằng không thể nào vượt qua được Varnay. Bản thân Varnay cũng tự tin cho rằng Ortrud (cùng Elektra) thực sự là vai diễn để đời của bà.

Có đến gần chục bản thu âm Varnay hát Ortrud trên thị trường, nhưng bản thu âm nào cũng có thể thấy Varnay cũng luôn giữ được chất lửa kịch tính và nguồn năng lượng dồi dào vô tận của mình. Dưới đây là bản live năm 1962 tại Bayreuth Festspielhaus trong thời kỳ cuối sự nghiệp Wagnerian của Varnay (từ sau thập niên 1960, Varnay dần chuyển dần sang các kịch mục cho mezzo-soprano vì một số bất ổn ở note cao), nhưng có thể thấy sức căng mãnh liệt của giọng hát hầu như không có dấu hiệu suy giảm.

 

Xmas with Price(less) voice :P

Download album: Christmas with Leontyne Price

Leontyne Price (Soprano)

Herbert von Karajan (Conductor)

Wiener Philharmoniker Choir and Orchestra.

Recorded in June 1961

I’m not a Christian , even not really interested in Xmas music, but 2me, that’s the best classical Xmas album, especially for 2nite. This album was recorded in early 60s, capturing one of the most beautiful Black voice in prime, with Karajan and Wiener Philharmoniker Orch.

Merry Xmas!

11 greatest voices in XX century by Figaro và 1 sự khách quan (cứ cho là) giả lập

Mềnh biết là nhiều bạn khoái các thể loại danh sách , nên sang năm mới 2011 quyết định lập ra 1 list 11 nghệ sỹ opera và thanh nhạc cổ điển xuất sắc nhất của thế kỉ 20 (theo ý kiến chủ quan), coi như là 1 tổng kết nho nhỏ sau một thời gian nghe và tìm hiểu về opera.

Danh sách đầu tiên là danh sách dựa trên tiêu chí tên tuổi, tầm ảnh hưởng , vị trí, tài năng của nghệ sỹ đối với opera và thanh nhạc cổ điển thế kỷ 20. (của tkỷ 20 vì trước đấy thì thiết bị ghi âm chưa phát triển, còn sau đấy thì còn quá sớm để đánh giá các nghệ sỹ trẻ). Đây không phải list những nghệ sỹ yêu thích vì quá nửa nghệ sỹ trong list này k0 nằm trong fav artists của tớ, danh sách fav artists sẽ giới thiệu sau. Nói túm lại là nó cũng hơi lý tính (tất nhiên đánh giá, lựa chọn vẫn có tí cảm tính, vì chẳng có cái list cá nhân nào mà không có sự  chủ quan cả). Cũng nói thêm đây là list của thời điểm hiện tại, dựa trên kiến thức và những gì tớ đã nghe trong suốt thời gian qua, còn sau này, có thể vị trí và nhân sự của list trên sẽ có ít nhiều thay đổi, nhưng đấy là chuyện của sau này… Giờ xin mời nghía qua.

1. Maria Callas (1923-1977) soprano

2. Enrico Caruso (1873-1921) tenor

3. Placido Domingo (1941) tenor

4. Feodor Chaliapin (1873 – 1938) bass

5. Joan Sutherland (1926 – 2010) soprano

6. Dietrich Fischer-Dieskau (1925) baritone

7. Kathleen Ferrier (1912-1953) contralto

8. Kristen Flagstad(1895-1962) soprano

9. Leontyne Price (1927) soprano

10. Tito Gobbi (1913-1984) baritone

11. Christa Ludwig (1928) mezzo-soprano

—————————-

1. Maria Callas (1923-1977) soprano

Tôi hoàn toàn có thể nghi ngờ sự tin cậy của bất cứ  list greatest operatic artists nào không nhắc đến Callas, thậm chí là nếu không phải ở vị trí đầu tiên. Với vinh quang gần như  chỉ nằm trong khoảng hơn chục năm (thời kì đỉnh cao nhất là1953-1964) nhưng Callas đã trở thành tượng đài vĩ đại nhất của thánh đường opera. Tôi chưa bao giờ thấy 1 nghệ sỹ nào tỏ vẻ nghi ngờ tài năng cũng như vị trí của Callas, còn những cái tên bày tỏ sự ngưỡng mộ, và thú nhận bị ảnh hưởng, thậm chí phát rồ vì Callas thì k0 kể xiết (Schwarzkopf, Sutherland, Gencer, Caballe, Pava, Sass, Bartoli, Dessay, Netrebko, Urmana,…) Mỗi thế hệ nghệ sỹ opera, người ta lại cố gắng tìm kiếm người có thể kế vị, một new Callas, nhưng chưa ai dám nghĩ đến việc thay thế Callas. Trước và sau thời kì đế chế của Callas có không ít giọng hát đẹp hơn, tài năng không kém, và thậm chí có cả người mà Callas ngưỡng mộ (như  Rosa Ponselle), nhưng không có một người nào đạt đến vị trí tối thượng như  Callas. Ngay cả những nghệ sỹ lựa chọn trong danh sách này, tôi đều lấy từ Callas làm chuẩn, keke.

Đối với riêng tôi, Callas là ca sĩ opera đầu tiên mà tôi nghe và khiến tôi đến với opera. Thú thực là không phải tôi đã bị hấp dẫn ngay, vì âm sắc giọng hát hơi quá nặng đối với taste của một đứa chưa biết gì về opera giống như tôi lúc đó, nhưng tôi đã bị ấn tượng rất mạnh và rồi dần dần bị cuốn hút. Tôi lúc ấy, không biết thế nào là một giọng hát đẹp, không biết cái aria kia, cái duet này nói về cái quái gì, không biết kĩ thuật x,y,z là cái fuckin gì, hoàn toàn là tờ giấy trắng. Kể cả gần 1 năm sau khi nghe cái collection album La Divina của Callas (album đầu tiên mà tôi có) và đã bị Callas bỏ bùa, tôi cũng còn chả hiểu aria Vissi d’arte là về gì. Callas đã bắc cái cầu đầu tiên đưa tôi đến với thế giới opera, để tôi tìm hiểu, yêu thích. “Tình yêu lớn là Caballe còn tình yêu đầu tiên là Callas” – Mr Cò đã nói về tôi như vậy trong một lần hồi box nhạc chúng tôi mới gặp gỡ nhau. Thường thì người ta chỉ nhớ đến mối tình đầu tiên và cuối cùng mà thôi.

Callas cũng là nghệ sỹ đầu tiên mà tôi viết Tiểu sử cho trang nhaccodien.info. Tôi đã đọc về Callas một cách say mê, viết một cách say mê với một cảm xúc ngây ngô đầy nhiệt tình … Bây giờ tôi không dám đọc lại bài đấy nữa, vì tôi biết là tôi đã chả hiểu gì về Callas cả. Tôi nhớ dịch giả Thúy Toàn từng thú nhận đại ý rằng nếu biết trước về Pushkin thì đã không dám dịch “Tôi yêu em” nữa, tôi k0 dám so sánh với Thúy Toàn, nhưng quả thật tôi thấy là tôi đã …liều quá.

Tôi vẫn chưa dám viết một entry về Callas, mỗi một lần nghe lại Callas lại là một xúc cảm khác, và chưa bao giờ có thể định hình lại một cách rõ nét để viết. Nhưng chắc chắn là , chưa thể đóng cửa blog này trước khi có 1 entry về Callas.

Tôi nghĩ không một vai diễn nào, kể cả Tosca, khắc họa rõ nét con người, tính cách và tài năng của Callas hơn Norma. Cái khoảnh khắc khi Callas cất giọng hát những note nhạc đầu tiên trong aria ”Casta Diva”, Callas đã tỏa sáng như 1 La Divina (nữ thần). Bản thu âm studio “Casta Diva” năm 1960 (nằm trong complete Norma thực hiện với F.Corelli, C.Ludwig dưới đũa chỉ huy của nhạc trưởng T.Serafin) là bản thu âm nổi tiếng và phổ biến nhất của Callas. Vâng,  hãy nghe đi để thấy rằng dù Sutherland tuyệt vời, Caballe tuyệt vời, Gencer tuyệt vời, Sills tuyệt vời, nhưng Norma chỉ có thể là Maria Callas.

Download: Casta Diva – Norma – Bellini

Maria Callas (Soprano)

Tullio Serafin (Conductor)

Orchestra e Coro del Teatro alla Scala

Recorded in 1960

2. Enrico Caruso (1873-1921) tenor

Vị trí thứ 2 và 3 luôn làm tôi đau đầu. Giữa Caruso và Domingo, chọn ai đây? Một người là “King of Singing”, một người là “King of Opera”… Nhưng cuối cùng tôi đã chọn Caruso.  Tôi cho rằng những gì Domingo đang làm ở sườn dốc của sự nghiệp mang ít nhiều tính thương mại và tham quyền cố vị (xin đừng bash tôi vì nhận định này).

Giống như trường hợp của Callas, mỗi tenor thế hệ sau, đều phải chịu sức ép so sánh đối với Caruso. Caruso cũng không phải một giọng hát hoàn hảo, nhưng đã trở thành một biểu tượng, một thứ như là chuẩn mực đối với một giọng tenor. Caruso là ca sĩ đầu tiên có sự nghiệp và tên tuổi rộng khắp trên toàn thế giới, là ca sĩ ngôi sao đầu tiên của kỷ nguyên ghi âm. Hình ảnh Caruso trong vai Canio đã vượt khỏi opera và trở thành một biểu tượng văn hóa. Tôi lựa chọn bản thu âm “Vesti la giubba” năm 1907 – bản thu âm nổi tiếng nhất của Caruso với aria này và cũng là trích đoạn nổi tiếng nhất của Caruso.

Download: Recitar! mentre preso dal delirio… Vesti la giubba – Pagliacci – Leoncavallo

Enrico Caruso (Tenor)

Condutor and Orchestra – Unknown

Recorded in 1907

3. Placido Domingo (1941) tenor

Tôi không muốn nói nhiều (vì đã nói quá nhiều) về Domingo. Việc ông nằm trong list này là chắc chắn, cái tôi lăn tăn chỉ là ông nằm vị trí thứ mấy thôi. Ngoài Callas ra, không một nghệ sỹ nào có tầm ảnh hưởng lớn trong opera như Domingo, cũng không một nghệ sỹ nào ở trên đỉnh trong thời gian dài như  Domingo. Cái người ta tò mò bây giờ là Domingo sẽ kết thúc sự nghiệp của mình như thế nào để xứng đáng như 1 Legend. Nếu bạn bảo nghệ sỹ yêu thích nhất của bạn là Domingo, dù có thể người ta không đánh giá cao bạn, nhưng sẽ không ai bảo bạn có gout tồi cả.

Xin phép được dùng lại bản ghi âm năm 1978  “Niun mi tema” vì đã một lần giới thiệu rồi. Ngay cả khi đã nghe lại không biết bao nhiêu lần, vẫn sởn da gà trước tiếng thét từ tận cùng đau đớn: “Desdemona! ah! morta! morta! morta!”

Download: Niun mi tema – Otello – Verdi

Placido Domingo (Tenor)

James Levine (Conductor)

National Philharmonic Orchestra

Recorded in 1978

4. Feodor Chaliapin (1873 – 1938) bass

Callas liệu có phải là acting-voice đầu tiên? Không, người đó chính là Feodor Chaliapin. Chaliapin là một trong những kịch sỹ vĩ đại nhất của nền nghệ thuật sân khấu nói chung và opera nói riêng. Cá nhân tôi cho rằng  Chaliapin là người có ảnh hưởng lớn đến trường phái thể hiện giàu tính kịch của Verismo opera. Chính ông  là người đầu tiên thay đổi thẩm mỹ thưởng thức opera của khán giả, cho khán giả thấy rằng người ta không đến nhà hát opera chỉ để nghe Hát và cũng là người đầu tiên trở thành ngôi sao opera chỉ với giọng Bass (vốn trước đây bass chỉ là những ca sĩ hát vai thứ, vai phụ). Feodor Chaliapin là cánh chim đầu đàn của nền thanh nhạc cổ điển Nga.

Vai diễn opera nổi tiếng nhất của Chaliapin là Boris Godunov với cái death scene đã trở thành một tượng đài khó thay thế. Tuy nhiên tôi chọn giới thiệu ở đây bản ghi âm nổi tiếng khác:  bài hát của gã du đãng say rượu Varlaam (cũng trong Boris Godunov) – bản ghi âm đầu tiên của Chaliapin mà tôi nghe và cho tôi một hình dung ban đầu về Chaliapin.

Download: Как во городе было во Казани (In the town of Kazan) – Boris Godunov – Mussorgsky

Feodor Chaliapin (Bass)

Rosario Bourdon (Conductor)

Orchestra – Unknown

Recorded in 1927

5. Joan Sutherland (1926 – 2010) soprano

Có thể bạn tìm thấy ít nhiều nhược điểm trong giọng hát và cách thể hiện của Sutherland, nhưng hãy thành thực đi, liệu bạn tìm được giọng hát nào có vẻ đẹp âm thanh thuần túy lộng lẫy hơn  Sutherland? Nếu nhắc đến chức năng nguyên thủy của giọng hát trong Opera thì hãy nhớ rằng Joan Sutherland là cái đỉnh cao nhất. Ngay cả Callas còn phải thốt lên rằng: “Cô ấy đã vất bỏ sự nghiệp của tôi lại phía sau 100 năm”.  Giọng hát của Sutherland là một điều kỳ diệu, nó làm bạn quên đi tính kịch trong opera, thậm chí quên đi cả âm nhạc, tất cả chỉ còn lại vẻ đẹp tuyệt đối của âm thanh giọng hát. Nhưng điều đó là ưu hay nhược điểm? Nó giúp Sutherland luôn nằm trong danh sách những ngệ sỹ opera quan trọng nhất của thế kỉ, nhưng cũng vì nó mà bà không bao giờ có thể ở vị trí đầu tiên…

La Stupenda Joan Sutherland có quá nhiều bản thu âm must have, chắc chắn tôi sẽ giới thiệu trong 1 entry gần đây. Nếu thực sự yêu thích vẻ đẹp âm thanh giọng hát thì không thể bỏ qua album huyền thoại “The art of prima donna” với  note e3 đẹp nhất trong lịch sử ghi âm (với cá nhân tôi) trong Aria/Cabaletta: Bel raggio lusinghier…Dolce pensiero (từng được giới thiệu ở đây). Giờ  xin phép đc giới thiệu 1 aria/cabaletta ít phổ biến hơn của Sutherland, aria của Odabella trong vở Atilla của Verdi. Bản thu âm năm 1963 không chỉ capture đầy đủ  những note cao đẹp lộng lẫy của Sutherland mà còn cho thấy một Sutherland kịch tính mang màu sắc Callas (ngừoi đã khích lệ Sutherland theo đuổi coloratura reprtoire) như thế nào. (Những bản thu âm tkì đầu 60s của Sutherland nghe kịch tính và rực lửa hơn hẳn những bản thu âm sau này kể cả so với những bản ghi âm aria Wagner hay Turandot)

Download: Santo di patria… Allor che i forti corrono – Attila – Verdi

Joan Sutherland (Soprano)

Richard Bonynge (Conductor)

London Symphony Orchestra

Recorded in 1963

6. Dietrich Fischer-Dieskau (1925) baritone

Tôi không biết bắt đầu về Fischer-Dieskau thế nào? và cũng không biết lựa chọn bản ghi âm nào để giới thiệu về ông : “Der Erlkönig”? “Winterreise” ? “Dichterliebe”? … F-D là một trong những nghệ sỹ thanh nhạc cổ điển ghi âm nhiều nhất. Tôi chưa từng thống kê những bản ghi âm của ông nhưng số đĩa lieder, artsongs mà tôi có của ông bằng cả số đĩa ca khúc nghệ thuật của các nghệ sỹ khác mà tôi có. Nhưng sự thật là ông chưa bao giờ là fav artist của tôi. Tôi thích giọng hát tuyệt đẹp của M.Goerne, thích cái cảm xúc ăm ắp trong cách thể hiện của H.Prey, thích cái cách hát thủ thỉ như kể chuyện và âm sắc mượt mà của G.Souzay, thích cái sự trẻ trung tươi roi rói đầy nhiệt huyết của F.Wunderlich, thích sự  sâu sắc đến bình thản của J.Baker, thích sự tỉnh táo đến mô phạm của von Otter, thích cái trong trẻo, tươi tắn của L.Popp, … F-D là tổng hợp của tất cả những điều đấy, là Master of Lieder, người ta không thể tìm được người có tầm vóc lớn hơn ông trong lieder nói riêng và artsongs nói chung trước cái sự nghiệp đồ sộ của F-D.  Nhưng tôi chưa bao giờ có thể tập trung nghe thật kỹ một tác phẩm mà ông thể hiện. Tôi thấy nặng nề. Dù rằng ông có một giọng baritone trữ tình rất sáng, đẹp và thuận tai. Ở mảng opera cũng vậy,  cá nhân tôi không thấy hấp dẫn trong cách thể hiện của ông với opera, hơi nhiều chất …oratorio. Tôi k0 tìm hiểu nhiều ở mảng này của ông nên không dám võ đoán, thôi cứ cho là không hợp taste đi vậy.

Tôi chọn ở đây một ca khúc khá dễ thương của Othmar Schoek. Ca khúc này có phần đệm piano nhí nhảnh cùng lời thơ trong trẻo như một bài thơ thiếu nhi, không phải là một hình ảnh nghiêm túc quen thuộc thường thấy của F-D

Download: Reiselied, Op. 12 No.1 – Schoek

Dietrich Fischer-Dieskau (Baritone)

Aribert Reimann (Piano)

Recorded in 1970

7. Kathleen Ferrier (1912-1953) contralto

Trước khi nghĩ đến Ferrier, tôi đã cố gắng lục tung toàn bộ trí nhớ của mình xem ngoài bà, còn giọng hát nào có thể chạm sâu hơn vào tâm hồn tôi không? Và tôi đã thất bại. Opera và thanh nhạc cổ điển đã mang lại cho tôi rất nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều lần xúc động đến rùng mình, sởn gai ốc, trước vẻ đẹp của âm nhạc, của âm thanh giọng hát con người. Nhưng với  mỗi bản thu âm của Kathleen Ferrier thì lại là những trải nghiệm với một cảm xúc hoàn toàn khác. Thứ âm nhạc đến từ giọng hát đặc biệt của bà không chỉ đọng lại ở đôi tai mà nó cứ len lỏi dần vào sâu thẳm phía bên trong và lơ lửng ở đấy. Tôi tin đấy không chỉ là cảm giác của riêng bản thân tôi mà của rất rất nhiều người khác đã tiếp xúc với những bản thu âm của bà. Ferrier không có 1 âm vực rộng, không có một âm lượng khổng lồ, không có kỹ thuật hát của 1 virtuoso, không có kỹ năng diễn xuất sân khấu nổi trội, nhưng Ferrier có nhạc cảm và 1 trái tim nghệ sỹ đủ để khiến tất cả những điều còn lại trở nên vô nghĩa. Bước vào con đường nghệ thuật rất muộn và lại sớm kết thúc bởi căn bệnh hiểm nghèo, nhưng gần như tất cả những bản thu âm Kathleen Ferrier để lại dù là live hay studio được thực hiện trong quảng thời gian ngắn ngủi ấy đều là một di sản vô giá của âm nhạc cổ điển. K.Ferrier là một trong không nhiều nghệ sỹ thanh nhạc cổ điển có thề trò chuyện với tâm hồn bạn qua âm nhạc. Tôi chọn bà không phải bởi vì bà là 1 contralto quý hiếm, cũng không phải vì bà nhận được sự kính trọng và yêu mến của nhiều thế hệ nghệ sỹ , nhạc trưởng tài danh, tôi chọn bà cũng chính bởi cái khả năng trò chuyện thiên bẩm ấy, dù bà không hẳn là một fav artist của tôi.

Kathleen Ferrier có nhiều bản ghi âm gắn với ít nhiều kỉ niệm của tôi, nhưng có lẽ tôi sẽ chia sẻ trong 1 entry riêng về bà. Ở đây tôi muốn  giới thiệu 1 bài hát dân ca – “Blow the wind southerly”.  “Ferrier đã vượt qua mọi định kiến, mọi lời chỉ trích từ phía những nhà phê bình để tiến hành ghi âm các bài hát (dân ca) này, những tác phẩm thanh nhac giản dị đến mức nhiều người coi là không có giá trị nghệ thuật…” (by PP)

Download: Blow the wind southerly – Northumbrian folk

Kathleen Ferrier (Contralto)

Reorded in 1949

8. Kristen Flagstad(1895-1962) soprano

Nếu chia miếng bánh Opera thành nhiều phần thì tôi cho rằng nó sẽ gồm 20% Wagner, 20% Verdi, 15% Mozart, 15% Verismo, 10% Belcanto và 10% Baroque và phần còn lại là những tác giả khác (10%). Verdi và Wagner luôn chiếm những khoanh lớn nhất trong opera và chắc chắn là trong bất cứ 1 list operatic voices nào cũng phải có ít nhất 1 Wagnerian voice. Cá nhân tôi dành vị trí Wagnerian voice trong cái danh sách của tôi cho Kristen Flagstad. B.Nilsson mới là most fav Wagnerian soprano của tôi, và tôi cũng rất thích Varnay, Crespin, Rysanek, Behrens, Norman, Meier, Hans Hotter, Vickers, Windgassen, Jerusalem,… nhưng tôi không thể xếp ai ở vị trí cao hơn K.Flagstad (kể cả L.Melchior hay L.Lehmann).

Được ghi nhận như là một trong những giọng hát có âm lượng lớn nhất trong lịch sử ghi âm, nhưng Flagstad chưa bao giờ cố biến opera Wagner thành bữa tiệc thịnh soạn của những note cao khổng lồ. R.Strauss dành tặng 4 ca khúc cuối cùng của mình, với những nét nhạc bay bổng tuyệt đẹp cho K.Flagstad, ông hẳn phải rất hiểu bà. Isolde của Flagstad là hình mẫu cho tiêu chuẩn một Wagnerian voice : cường độ, âm lượng của giọng hát phải xuất phát từ  tính kịch trong thứ âm nhạc kịch tính, và hơn hết Flagstad sở hữu  một trong những giọng hát tự nhiên đẹp nhất của lịch sử ghi âm.

Ở đây tôi chọn bản thu âm “Mild und Leise” của Flagstad năm 1948 – một trong vô số những bản thu âm  Liebestod xuất sắc khác đã trở thành thương hiệu riêng của Flagstad.

Download: Mild und leise – Tristan und Isolde – Wagner

Kirsten Flagstad (Soprano)

Issay Dobroven (Conductor)

Philharmonia Orchestra

Recorded in 1948

9. Leontyne Price (1927) soprano

Leontyne Price luôn được nhắc đến như là 1 trong những Verdian soprano xuất sắc nhất trong lịch sử. Khi tôi thưởng thức những bản thu âm để lại của bà, đặc biệt trong opera Verdi – composer yêu thích nhất của tôi, tôi không thể hòan toàn đồng ý với nhận định trên. Tôi thích 1 âm thanh Ý thuần chủng mượt đẹp kiểu Tebaldi, thậm chí Callas, Caballe, Cerquetti cũng cho nhiều trải nghiệm thú vị với âm nhạc Verdi hơn là Price. Tất nhiên không ai trong số những cái tên kể trên có thể hát Aida tốt hơn Price. “ Aida – một nhân vật hay Aida – opera đều có đầy đủ ý nghĩa, nỗi đau và những niềm riêng trong tôi. Trong nhiều khía canh, tôi tin rằng Aida chính là bức chân dung con người bên trong của tôi. Cô ấy chính là người bạn opera thân thiết nhất của tôi, tôi cảm nhận Aida một cách hết sức tự nhiên vì màu da tôi chính là phục trang của tôi. Sự thật hiển nhiên này mang lại cho tôi 1 cảm giác mạnh mẽ, cho phép tôi hoàn toàn tự do trong việc bộc lộ, diễn tả từng cử động cũng như việc diễn xuất mà những vai diễn opera khác không thể đem lại. Tôi luôn cảm thấy, mỗi khi thể hiện Aida, đó lại là một lần tôi bộc lộ con người bản thân tôi với tư cách là một người Mỹ, một người Phụ nữ và một Con Người.” Ngay cả khi giọng hát không ở trong điều kiện tốt nhất, Aida vẫn là của riêng Price, như cái cách bà cảm nhận Aida chính từ  “cái màu da quí phái của mình”. Tôi xin khẳng định Leontyne Price là Prima donna da đen đầu tiên và lớn nhất trong lịch sử opera. Không, tôi không quên Marian Anderson – contralto có ảnh hưởng lớn đến tất cả những ca sĩ cổ điển Mỹ-Phi sau này kể cả Price, cũng không quên những prima donna da màu xuất sắc khác như  G.Bumbry, S.Verrett, M.Arroyo, J.Norman, K.Battle,… Nhưng hãy nhìn vào sự nghiệp ghi âm cũng như biểu diễn của Price, chúng ta phải đồng ý rằng vị trí của bà là độc tôn và không thể thay thế.

Tôi không giới thiệu ở đây “Ritorna vincitor” hay “O patria mia” trong Aida – vai diễn đã đóng dấu bởi L.Price. Tôi biết đến Price lần đầu tiên cũng bằng Aida, và hi vọng bạn (một người vô tình đọc entry này và chưa một lần biết đến Price) hãy tự tìm kiếm Aida của Price để có một trải nghiệm như tôi. Tôi xin giới thiệu ở đây một trích đoạn khác mà Price cũng rất yêu thích và thường sử dụng làm encore trong các recital concert của mình –  màn chết của Cio-cio-san :  “Tu, tu piccolo Iddio! ” thu âm năm 1960 nằm trong “blue album” huyền thoại của Price, khi Price và giọng hát khàn đục tuyệt đẹp và độc đáo của mình đang ở thời kì rực rỡ nhất.

Download: Tu! Tu! piccolo Iddio! – Madama Butterfly – Puccini

Leontyne Price (Soprano)

Oliviero de Fabritiis (Conductor)

Rome Opera Orchestra

Recorded in 1960

10. Tito Gobbi (1913-1984) baritone

Những operatic baritone mà tôi yêu thích nhất là E.Bastianini, P.Lisitsyan và nhất là H.Prey – người tôi thường xuyên sử dụng làm avatar, nhưng không ai trong số đó xuất hiện trong danh sách này. Tôi đã chọn Tito Gobbi. Tôi không chắc Gobbi là 1 giọng hát đẹp hay một giọng hát vang lớn giàu kịch tính, uhm, cứ cho là âm sắc baritone hơi khê và bí của ông không hợp với taste của tôi đi vậy. Nhưng tôi nể phục tài năng của ông, nể phục cái cách mà ông khắc họa nhân vật bằng âm nhạc. Không bao giờ có những đọan phô diễn giọng, kỹ thuật vô nghĩa trong sự thể hiện của ông. Gobbi thực sự là một Callas baritone. Sẽ là một thiếu sót lớn nếu không theo dõi libreto, để ý bối cảnh cốt truyện, tính cách nhân vật khi nghe những bản thu âm của ông, để hiểu những nhấn nhá đầy chủ ý, những sáng tạo sâu sắc của ông ở mỗi nhân vật.

Thật không dễ dàng kể hết tất cả những vai diễn xuất sắc của ông mà không nhiều baritone sau này có thể chạm đến: Rigoletto, Rodrigo (Don Carlo), Iago (Otello) , Tonio (Pagliacci),… và đặc biệt là Scarpia – vai diễn đỉnh cao của Gobbi. Sẽ không một ví dụ nào tốt hơn “Te deum Scene “trong bản ghi âm Tosca huyền thoại năm 1953 (cùng Callas, di Stefano dưới đũa chỉ huy của nhạc trưởng de Sabata) – bản thu âm được nhiều nhà phê bình đánh giá là một trong những bản ghi âm opera xuất sắc nhất mọi thời đại. Một Scarpia nham hiểm , dâm đãng, đầy tham vọng với những toan tính độc ác hiện lên không thể rõ nét hơn.

Download: Tre sbirri, una carrozza … Va, Tosca – Tosca – Puccini

Tito Gobbi (Baritone)

Victor de Sabata (Conductor)

Orchestra e Coro del Teatro alla Scala

Recorded in 1953

11. Christa Ludwig (1928) mezzo-soprano

Tôi chốt hạ danh sách này bằng một cái tên mà tôi băn khoăn nhất : Christa Ludwig. Bà là một trường hợp đặc biệt, tôi có không ít bản thu âm cực kỳ yêu thích (Fidelio – Beethoven, Bluebeard’s Castle – Bartok, Das Lied Von Der Erde- Mahler,Tannhauser – Wagner…) nhưng bà chưa bao giờ nằm trong topfav mezzo của tôi. Rất khó lý giải. Tôi chưa thấy một bản thu âm nào của bà ở dưới mức khá, hầu như perfect. Ludwig gần như xuất sắc trong tất cả những mảng quan trọng nhất của mezzo từ Verdi đến Wagner, từ mozart đến belcanto, từ baroque đến ca khúc thính phòng. Thậm chí bà đủ ấn tượng và rực lửa để không biến cái hoàn hảo ấy trở nên đơn điệu, nhàm chán trong khi chưa bao giờ để cảm xúc chi phối đến mức để phô dù 1 note. Ludwig cũng là một trong những giọng hát Đức có âm sắc đẹp nhất mà tôi biết, và chắc chắn khó có mezzo-soprano gốc Đức-Áo nào có sự nghiệp ngang tầm Ludwig. Mezzo-soprano là type giọng tôi thích nhất và có đến hàng tá favmezzo, trong số đó có không ít người cả danh tiếng và tài năng đều chưa chắc đã bằng Ludwig (obukhova, dolukhanova, arkhipova, obraztsova, verrett, cossotto, baker, bartoli, garanca, … ).Với một giọng hát như vậy, một cá tính nghệ sỹ như vậy, sao tôi vẫn chưa thực sự rung động với nghệ thuật của bà. Thôi cứ coi như là do tôi và bà chưa phải duyên vậy…

Tôi giới thiệu ở đây aria của Leonore: “Komm, Hoffnung, laß den letzten Stern” nằm trong bản thu âm đỉnh cao Fidelio năm 1962 của nhạc trưởng Otto Klemperer (EMI) – Bản ghi âm Fidelio xuất sắc mọi thời đại – một viên ngọc quí giá của opera nói riêng và âm nhạc cổ điển nói chung.

Download: Komm, Hoffnung, laß den letzten Stern – Fidelio – Beethoven

Christa Ludwig (Mezzo-soprano)

Otto Klemperer (Conductor)

Philharmonia Orchestra of London

Recorded in 1962

————-

Chắc chắn không một list nào, dù cố gắng khách quan đến mấy cũng có thể thỏa mãn tất cả mọi người. Mỗi đánh giá đều dự trên những kinh nghiệm, kiến thức và cảm nhận khác nhau của mỗi người. Có thể sẽ có nhiều bạn thắc mắc;: giả dụ như Pavarotti – nghệ sỹ nổi tiếng và quan trọng nhất trong suốt gần nữa cuối thế kỷ 20 ở đâu? , rồi Rosa Ponselle – soprano duy nhất mà Callas ngưỡng mộ, nể phục, hay E.Schwarzkopf – queen off Lieder? hay Callas-bass Boris Christoff? Hay greatest black artist – Marian Anderson? hay Callas-only rival Tebaldi? Rồi tại sao không có Sills, Zeani thay vào đó Sutherland… Tại sao là con số 11? Vâng, như đã nói, tôi đang thử cố dựng một sự khách quan giả lập, khi tôi không bị sự chi phối của tình cảm yêu thích cá nhân (thế nên tôi đã rút Caballe, rút Nilsson,rút Bjorling … ra khỏi list này dù tên tuổi, tài năng họ k0 hề kém những ngời trên). Có thể lần tới tôi sẽ bắt đầu 1 list thứ 2 – list fav artist của riêng tôi, điều này sẽ dễ dàng hơn nhiều.

Khi tôi đứng ở góc độ một người đọc trước những danh sách, những đánh giá chủ quan, tôi có thể mặc sức phê bình và chê bôi, nhưng đứng vào vai trò một người đưa ra list cá nhân thì mới thấy quả là thực sự khó. Thế nên tôi cũng phải rào trước đón sau là “list này của thời điểm hiện tại”, coi nhưa chừa cho mình 1 đường rút, keke 😛 . Dù sao cũng thấy thỏa mãn ít nhiều vì đã cố gắng dám thử 1 lần. Nếu bạn nào ghé qua blog, đọc entry này, hi vọng có chút comment để cùng trao đổi, dù là đồng ý, phản đối, coi thường, ghi nhận,… Welcome!

Goodbye La Stupenda, Joan Sutherland!!!

Joan Sutherland , DBE

7/11/1926 – 10/10/2010

Quá shock ! …

Download: Bel raggio lusinghier…Dolce pensiero di quell’istante  (Semiramide’s aria and cabaletta) – Semiramide – G.Rossini

Joan Sutherland (soprano)

Francesco Molinari-Pradelli (conductor)

Covent Garden Royal Opera House Chorus and Orchestra

Recorded in August 1960

Tôi k0 tin là có note Mí nào đẹp hơn note Mí này đã từng được ghi âm, và 1 cabaletta nào ảo diệu hơn caballetta của Semiramide qua giọng hát Sutherland.

Cảm thấy hối tiếc khi chưa kịp viết 1 bài hoàn chỉnh trên blog về Sutherland –  người đã cho tôi 1 hình dung đầy đủ và chính xác nhất về chức năng nguyên thủy của giọng hát trong opera, trước khi bà về nơi vĩnh hằng.

Rest in peace…

Vĩnh biệt Joan Sutherland, “Điều Kỳ Diệu” cuối cùng của Opera!

Hùng Vĩ!!!

Birgit Nilsson ( 1918-2005)

Trong một bài phỏng vấn Beverly Sills trước khi qua đời, cách đây 4 năm, khi bà được hỏi về sự khan hiếm các giọng ca trẻ xuất sắc trong thời đại này, Sills đã trả lời:  “…Tôi vẫn nhớ buổi diễn “Andrea Chenier” với Tebaldi, del Monaco và Bastianini.  Không, chúng ta không thể có những bản sao giống như vậy được nữa.  Nhưng tôi cũng nhớ đến một buổi diễn “Otello” với Renée Fleming, Domingo và Levine đứng trong hố nhạc. Nó không hề tệ chút nào. Nó thực sự là 1 Otello khá tròn trịa.  Nhưng chúng ta vẫn chưa thể thay thế Nilsson. Chúng ta hiện rất yếu với những giọng hát kịch tính cho opera Wagner và điều ấy quả là đáng buồn…”

Chúng ta đang có Waltraut Meier xuất sắc, đầy cá tính, Jane Eaglen tròn đầy, đa dạng, Nina Stemme ấn tượng và rất thông minh, và còn rất nhiều người khác nữa (D.Voight, E. Westbroek,…). Chúng ta không hề thiếu những Wagnerian voice tốt ở thời đại này, nhưng với tôi, chúng ta k0 thể và không bao giờ thay thế được Birgit Nilsson – một người được sinh ra để hát Wagner.

Birgit Nilsson trong vai Turandot

Nilsson từng nói: “Turandot làm tôi giàu, còn Isolde giúp tôi nổi tiếng“. Turandot đủ làm Nilsson dư  dả đến mức sau khi bà qua đời, số tài sản bà để lại đủ để lập giải thưởng “triệu đô” mang tên mình (giải thưởng có giá trị lớn nhất đến thời điểm hiện tại trong lĩnh vực biểu diễn classical music) cho những người có đóng góp lớn cho opera (và anh gà gô bảnh chọe, khéo nịnh đầm đã may mắn là người đầu tiên được đích thân Nilsson chỉ định cho giải thưởng này ). Vai Turandot – máy chém giọng kinh hoàng và là nỗi ác mộng của các soprano. Dù tổng thời gian hát trến sân khấu chưa đến 30 phút, nhưng lại toàn những note fortissimo ở quãng rất cao liên tiếp nên hiếm có sop nào kể cả true dramatic có thể giữ được nó trong vài năm liên tiếp mà k0 “bỏ vai chạy lấy… giọng”. Vậy mà Turandot đã thành thương hiệu của  Nilsson trong suốt cả sự nghiệp. Nhưng tôi cho rằng Nilsson (hay cả Dimitrova – 1 soprano nổi tiếng k kém với Turandot) k0 phải là Turandot hoàn hảo. Turandot của họ quá xa vời, chói lọi, và nổi bật 1 cách tách biệt như  cái cách mà mọi người trong box vẫn hay nói là … “cô đơn trên cao” (hé hé).  Bản thu âm “In questa reggia” (Turandot) của Nilsson tại Matx-cơ-va năm 65 nhân chuyến lưu diễn cùng La Scala tại Bolshoi cho thấy 1 note Đố vĩ đại khổng lồ chưa từng thấy trong lịch sử  ghi âm (note Đố của tenor hát cùng hoàn toàn bị upstage tan tành thành mây khói). Trường hợp khác tương tự là bản Turandot studio của RCA giữa Nilsson và Björling. Một lần chat với chị Nina cũng kể chuyện Nilsson rất kiêu hãnh phán đại ý rằng “chẳng có tenor nào đủ sức át note Đố của chị ấy khi duet mà k0 dùng tiểu xảo, vì note đố của Soprano luôn cao hơn, sáng chói hơn,…”  rồi khoe khéo chiến công upstage lão tướng Đan Mạch Helge Rosvaenge một cách đầy mỉa mai : ” trong duet của Turandot, Helge Rosvaenge (tenor kịch tính nổi tiếng trước ww2) giơ tay lên, mở rộng miệng và làm 1 động tác kịch tính như thể đang hát 1 note cao nhưng thực tế chỉ có mình tôi hát vậy mà hôm sau các bài báo vẫn viết là Helge Rosvaenge duet cùng tôi”.  Thực ra tôi nghĩ Nilsson là kiểu người hài hước, thích đùa cợt, tự nhiên k0 giữ phép tắc, chứ  bà cũng k0 phải người máu ăn thua đến mức muốn đọ sức với ông cụ ngoài 60t làm gì. Bản Turandot có vẻ như  cân sức nhất với Nilsson có lẽ là bản studio của EMI (với F.Corelli và R.Scotto) mà k biết có tiểu xảo gì của kĩ sư  ghi âm cho Corelli ko. Nhưng xét cho cùng, Nilsson chỉ nên hát Turandot đến hết phân cảnh “3 câu đố của Turandot” mà thôi.

Download:

In questa reggia  – Turandot – Giacomo Puccini

Straniero, Ascolta!…Nella Cupa Notte – Turandot – Giacomo Puccini

Birgit Nilsson (soprano)

Franco Corelli (tenor)

France Molinari-Pradelli (conductor)

Rome Opera Theater Orchestra & Chorus

Recorded in June – July1965

Birgit Nilsson trong vai Isolde

Tôi rất thích Isolde của Nilsson, đặc biệt là bản ghi âm năm 66 tại Bayreuth Festspiele với Böhm chỉ huy. Nhưng, lại thêm 1 chữ “nhưng” k0 mong muốn, đấy cũng k phải là 1 Isolde  như tôi tưởng tượng. Isolde của Nilsson không hề yêu Tristan, Isolde-Nilsson yêu … bản thân hơn. Màn hấp hối “chết vì tình” (Liebestod):  “Mild und Leise” của Isolde trở thành 1 Mad scene… rạo rực chứ chả thấy Mild (mềm mại) với Leise (dịu dàng) j` ráo trọi, keke. Cái bóng khổng lồ của Nilsson không đủ sức để che phủ tượng đài K.Flagstad vĩnh cửu thậm chí chưa chắc đã là quá rộng với đàn em W.Meier trong Tristan und Isolde. Nilsson hát Isolde thừa mãnh liệt, nhưng lại thiếu nồng nàn… Với nhiều người như thế là khó chấp nhận.

Uhm, nhưng tôi vẫn khẳng định Nilsson là fav Isolde của tôi. Tôi vẫn nhớ một trong những bài viết đầu tiên của tôi về opera từ  hồi tham gia box ncd- ttvnol (tiền thân của nhaccodien.info) cách đây 5-6 năm (và hình như bài đấy cũng có đăng lên homepage rồi đc vài site khác copy lại thì phải), đó cũng chính là 1 bài viết về Nilsson . Tôi đã nghe và cảm nhận khi mà tôi chưa có kinh nghiệm gì mấy, chưa biết nhiều, hiểu nhiều về bà, và cả về âm nhạc của Wagner nữa…

Download:

Mild und leise wie er lächelt – Tristan und Isolde – Richard Wagner

Birgit Nilsson (soprano)

Karl Böhm (conductor)

Bayreuth Festival Orchestra

Recorded in 1966

Birgit Nilsson trong vai Brünnhilde

Có thể nếu bạn đủ khắt khe để tìm được những Wagnerian voice cho riêng mình, và k0 thỏa mãn với Nilsson trong Elsa, Elisabeth, Senta, Siegliende, Isolde,… nhưng nếu bạn đã yêu thích opera của Wagner, bạn k0 thể không kiếm 1 bản thu âm của Nilsson trong bộ Ring, khuyên chân thành đấy. Brünnhilde của Nilsson là hoàn hảo tuyệt đối (cả 3 Brünnhilde). Dù là ở bản live hay studio cũng k0 thể có (“không thể” chứ k0 phải “khó có thể”) người vượt qua. Giọng hát đanh thép và sắc lạnh như  những nhát chém dứt khoát của thanh đại đao, miêu tả rõ nét và chân thực vị nữ chiến thần kiêu hãnh, đau đớn và bất hạnh. Tôi k0 có ý định bảo A.Varnay, K. Flagstad, F.Leider,G.Jones, M.Möld…  kém tài hơn hay là những Brünnhilde mờ nhạt, họ vẫn xuất sắc trong cách hiểu, cách thể hiện và sáng tạo nhân vật của riêng họ và cũng là những nghệ sỹ tuyệt vời. Nhưng Brünnhilde chỉ có thể là Nilsson mà thôi.

Tôi ko bao giờ muốn nhắc đến Nilsson như 1 cỗ máy hát, hay là 1 giọng hát chỉ nổi tiếng nhờ âm lượng khổng lồ, nếu bạn chờ đợi quá nhiều điều ấy từ giọng hát và cách thể hiện của Nilsson bạn sẽ thấy nó thật nông cạn và phù phiếm. Nghệ thuật của âm thanh giọng hát, giống như âm nhạc, có 1 sức biểu cảm rất riêng.

Nilsson đã qua đời, nhưng tiếng thét “Hojotoho” hùng vĩ  này  sẽ vẫn vang rền mãi mãi như một dấu ấn không phai mờ của 1 người nghệ sỹ rất đặc biệt mà tôi vô cùng yêu mến.

Download:

Nun zäume dein Ross, reisige Maid – Die Walküre – Richard Wagner

Recorded in October 29-November 19, 1965

Brünnhilde’s Immolation Scene: Starke Scheite schichtet mir dort – Götterdämmerung – Richard Wagner

Recorded in May 20-November 24, 1964

Birgit Nilsson (soprano)

Hans Hotter (Bass-Baritone)

George Solti (Conductor)

Wiener Philharmoniker