Hãy quay về và say đắm em trở lại

Prohaska-Anna-11[Monika_Rittershaus]

Anna Prohaska (1983)

Năm 1960, sau buổi diễn thành công vang dội trong vở Alcina của Handel tại nhà hát La Fenice – nhà hát từng phong tặng danh hiệu La Divina cho Maria Callas, giọng coloratura soprano xuất sắc nhất của thế kỉ XX Joan Sutherland đã được khán giả của nhà hát này xưng tụng là “La Stupenda” (Tuyệt diệu) và kể từ đấy cái tên này gắn bó với sự nghiệp của bà cho đến tận cuối đời.

Alcina kể về nữ pháp sư quyền phép và ngạo mạn đã phải chịu thất bại trước sức mạnh của tình yêu chân chính. Thực ra nội dung của vở opera này hơi lằng nhằng và ngớ ngẩn (với cá nhân ad) không dễ tiếp nhận lắm đối với khán giả hiện đại, tuy nhiên, giống như rất nhiều kiệt tác khác của Handel, Alcina có không ít những aria với giai điệu vô cùng hấp dẫn. Trước thập niên 60, Alcina vốn không phải là kịch mục phổ biến, nhưng đến nay đã có hàng chục phiên bản dàn dựng và ghi âm studio khác nhau và trở thành một trong những vở opera được biết đến nhiều nhất của Handel.

Vai thứ chính Morgana (em gái của pháp sư Alcina) có một aria rất đáng yêu là “Tornami a vagheggiar”. Joan Sutherland cực kỳ thích aria này, nên bà đã yêu cầu chồng mình, maestro R.Bonynge chuyển nó cho vai chính Alcina để mình được biểu diễn, ngay sau đó nó trở thành một trong những trích đoạn để đời của La stupenda và cũng là một trong những phần thể hiện xuất sắc nhất của aria này đến nay. (Tuy vậy phần lớn những dàn dựng sau này đều trả nó về cho nguyên bản cho Morgana)

Bạn hoàn toàn có thể search lại bản thu âm studio hoàn hảo không tì vết của Joan trên youtube, tuy nhiên hôm nay mình muốn giới thiệu phiên bản khác không hề thua kém, phiên bản của giọng soprano Đức (gốc Áo) trẻ đang lên Anna Prohaska. Anna có giọng màu sắc trữ tình khá đẹp với màu âm khác biệt, tuy âm lượng vừa phải, nhưng chính điều đó lại khiến cô trở nên rất hợp với Mozart và âm nhạc baroque. (Hãy nhớ rằng các nhà hát thời kì cổ điển trở về trước có khối tích tương đối nhỏ và dàn nhạc cũng không quá đồ sộ). Cách hát trơ, ít rung cộng với phần biến tấu và cadenza cực kỳ tinh tế ở phần “Da capo” của Anna khiến nó trở nên vô cùng tươi mát, nhẹ nhõm và thú vị.

“Tornami a vagheggiar” vốn được Handel phát triển từ môt aria được viết từ hồi ông còn trẻ, trước Alcina hơn 20 năm, trích trong bản catata “O Come chiare e belle”sáng tác từ năm 1708. Khi bắt đầu hoàn thiện Alcina, ông đã tái sử dụng và sửa chữa lại aria này. Aria nằm ở cuối màn I, khi Morgana, em gái của nữ pháp sư Alcina, thể hiện tình cảm mình với hiệp sĩ Ricciardo, một người nữ giả trang mà Morgana không hề biết. Ricciardo thực chất chính là Bradamante, vị hôn thê của Ruggiero – người đang bị mê hoặc bởi phép thuật và sắc đẹp của Alcina, cô tìm đến hang ổ của chị em Alcina để tìm cách giải cứu cho người mình yêu.

Ngay từ khi được biểu diễn lần đầu tiên, bởi giọng soprano Anh nổi tiếng đương thời – Cecilia Young, “Tornami a vaghegiar” đã rất được khán giả yêu thích. Johann Mattheson, một người bạn Handel, từng mô tả nó là “rất dễ chịu” và “tươi tắn”, với những chuỗi note nhạc melisma nối tiếp nhau cứ bay lên cao dần. Giống như kết cấu của phần lớn các “Aria da capo” thời kì baroque (“Da capo” tiếng Ý có nghĩa là “quay trở lại từ đầu”), “Tornami a vagheggiar” gồm 3 phần: phần đầu giới thiệu giai điệu chính, phần thứ 2 là chuyển điệu, và phần ba – “da capo” (nhắc lại phần đầu), tuy nhiên nó không được “nhắc lại” một các thông thường mà sẽ được các nghệ sỹ virtouso thêm vào nhiều biến tấu, các note trang trí hoa mĩ và các cadenza độc đáo riêng để phô diễn khả năng thanh nhạc, thẩm mĩ và kĩ thuật cá nhân của mỗi người.