Muti – O mia patria sì bella e perduta…

Par583306 Conductor - Riccardo Muti

Riccardo Muti – Conductor 

Ngày 12 tháng 3 năm 2011, nhân lễ kỉ niệm 150 năm ngày thống nhất nước Ý, vở opera Nabucco, kiệt tác đầu tiên của Verdi, được dàn dựng tại nhà hát thủ đô Teatro dell’Opera, Roma dưới đũa chỉ huy của Riccardo Muti – 1 trong những nhạc trưởng tài năng nhất của Ý trong thế hệ này. Và nó đã trở thành một sự kiện văn hóa gây chấn động, vượt ra khỏi tinh thần 1 buổi lễ kỉ niệm thông thường.

Trong bối cảnh nền kinh tế Ý ngày một khó khăn, quỹ hỗ trợ phát triển văn hóa bị cắt giảm không thương tiếc, còn chính phủ của thủ tướng Berlusconi đương thời lại dây vào không biết bao nhiêu những vụ bê bối ăn chơi trác táng, phè phỡn, xa hoa, Muti, bằng âm nhạc tuyệt vời của Verdi, đã nhân sự kiện này để bày tỏ lòng tiếc nuối vô hạn những di sản vĩ đại của văn hóa Ý đang dần dần mai một. Ông tuyên bố một cách thẳng thắn với chính quyền và giới tinh hoa rằng nước Ý rằng cần phải có một hành động trước khi bản hợp xướng ” Va, pensiero” trong vở opera tuyệt tác này sẽ trở thành “khúc nhạc đưa đám” cho cả nền văn hóa Ý.

Điều gì đã thực sự xảy ra tại nhà hát Roma vào cái đêm 12 tháng 3 hôm ấy?

Vị nhạc trưởng gốc Napoli đã hồi tưởng lại: “Vở opera diễn ra khá ổn thỏa, nhưng khi chúng tôi bước vào bản “Va pensiero” , đột nhiên không khí trong toàn bộ khán phòng như trở nên căng lên. Có một số điều bạn không thể miêu tả ra mà chỉ có thể cảm nhận được thôi. Trước đó, mọi người còn rất im lặng để thưởng thức vở opera. Khi tất cả nhận thấy “Va pensiero” đã bắt đầu, toàn bộ sự im lặng ấy như dâng đầy một bầu nhiệt huyết.

Muti có thể cảm thấy từng mạch máu của mỗi khán giả như bị tác động bởi lời than khóc của những người Nô lệ Hebrew: “Oh mia patria, si bella e perduta!” (Ôi Tổ quốc ta, tổ quốc tươi đẹp đã không còn nữa rồi!). Họ bắt đầu nghĩ rằng: “Tất cả mọi thứ làm nên sự vĩ đại của đất nước chúng ta trong quá khứ đã mất rồi”.

Ngay khi Muti vừa kết thúc bản hợp xướng, những tiếng hô liên tục vang lên: “Hãy Bis lại đi”. Khán giả bắt đầu la hét “nước Ý trường tồn”, “Verdi sống mãi”. Những người ngồi hàng đầu ở các khoang riêng bắt đầu ném những mảnh giấy với những khẩu hiệu yêu nước, thậm chí có cả: “Muti, Nghị sỹ của đời sống”, “Tổng thống Napoli muôn năm”.

Muti có chút do dự khi thực hiện encore (diễn lại trên sân khấu khi được khán giả hoan hô, ủng hộ), mặc dù ông đã từng làm vậy 1 lần tại La Scala năm 1986, cũng với “Va pensiero”. “Vở opera cần phải được trình diễn xuyên suốt từ đầu đến cuối”, ông nói. “Tôi không muốn thực hiện encore. Trừ phi nó phải có một ý nghĩa đặc biệt nào đó.”

Tuy nhiên khán giả đã đánh thức lòng tự hào dân tộc của ông. Với một điệu bộ hơi khoa trương, vị Maestro vẫn ngồi trên bục, quay lại phía khán giả, và nói: “Vào 9 tháng 3 năm 1842, Nabucco chính là vở opera đã thúc giục những con người Ý đứng lên tiến hành cuộc cách mạng chống lại người Áo để dành lại tự do và độc lập. Tôi hi vọng buổi lễ kỉ niệm 150 năm ngày thống nhất nước Ý này, Nabucco sẽ không phải là bản hành khúc tang lễ cho nền văn hóa của chúng ta.”

Và Muti mời toàn bộ khán giả cùng hát với dàn hợp xướng. “Tôi nhìn thấy từng tốp người đứng dậy. Rồi cả khán phòng đều đứng dậy. Cả dàn hợp xướng cũng đứng hết lên. Đó là một khoảnh khắc thực sự màu nhiệm trong nhà hát”.

Câu chuyện không dừng lại ở đó. 2 ngày sau đêm diễn, chính bộ trưởng Bộ Ngân Khố quốc gia đã đến gặp Muti, cùng nói chuyện với ông và tuyên bố rằng, chính phủ sẽ cố gắng tìm cách tháo gỡ những những vấn đề thực trạng của văn hóa Ý, cụ thể là hỗ trợ kinh phí để duy trì các hoạt động văn hóa, đặc biệt là nhà hát.

Đấy là chuyện ở nước Ý, còn hôm nay, mời các bạn nghe lại bản hợp xướng tuyệt đẹp này, bản hợp xướng từng được coi như bài Quốc ca không chính thức của người Ý, vào cái đêm diễn đầy xúc động hôm đó.
Hãy bay đi, trên đôi cánh vàng kia
những nghĩ suy không thể giam cầm được,
Về đậu lại dưới triền đồi thoải dốc,
nơi tỏa hương dịu ngọt, đất mẹ của ta.


Chào đôi bờ sông Jordan hiền hòa.
Chào những ngọn tháp Zion xưa cũ.
Ôi còn đâu , tổ quốc ta xinh đẹp rực rỡ.
Ôi kỉ niệm thân thương, tan nát trái tim.

Này đàn hạc của những vị tiên tri
sao ngươi không hát gì bên rặng liễu.
Hãy gọi ký ức trong lòng ta say ngủ
và nhắn nhủ, thời gian trôi qua rồi.

Ôi thành Jerusalem yêu mến của tôi
nghĩ về nó mà muốn òa lên khóc.
Xin Chúa trời ban cho con một khúc đồng vọng,
để đức hạnh chiến thắng mọi khổ đau.
(theo The Times)

Ghena Dimitrova – The true dramatic soprano

ghenaGhena Dimitrova (1941-2005)

“Hãy nhớ rằng, có rất nhiều Diva, nhưng chỉ 1 người trong số đó, với giọng hát của mình có thể trở thành prima donna”- Ghena Dimitrova

Có thể khá nhiều người đã biết rằng vở Opera đầu tiên mà Verdi gây được tiếng vamg chính là Nabucco. Vở opera được biết đến với hợp xướng “Va, Pensiero”, từng được coi như quốc ca thứ 2 của Ý. K0 chỉ vậy Nabucco còn chứa nhiều trích đạon hợp xướng, solo rất hay. Vai nữ chính Abigaille trong Nabucco cũng là vai diễn làm nên tên tuổi người vợ thứ 2 của Verdi, soprano Giuseppina Strepponi (1815-1897). Tuy vậy đây cũng chính là vai diễn làm suy giảm tuổi thọ giọng hát của Streponi, khiến Donizetti từng phải thốt lên rằng: Chính Verdi cũng chẳng muốn cô ta hát trong vở opera của ông ấy”. Abigaille là 1 trong những máy chém giọng và nỗi ác mộng của rất nhiều Soprano…

… (đoạn này đang viết dở thì mấy bác ở cty gọi ra cafe cà fáo)

Không phải tự nhiên mà 1 giọng hát đầy đặn như Caballé (người từng chiến cả Isolde, Turandot lẫn Salome) cũng k0 rớ tới vai này bao h, dù rất thích và Caballé cũng là 1 trong những Verdian soprano hàng top. Có giai thoại kể rằng, khi Caballé mon men ngó nghiêng Abigaille, hỏi xin tư vấn bà chị Callas thì Callas đã dội ngay 1 gáo nước lạnh: “Giọng cưng mà hát vai này thì chẳng khác nào nhét 1 chiếc ly fa lê quí giá vào trong hộp rồi lắc thật thô bạo”, thế là Caballé tởn luôn. Abigaile còn là tác nhân tàn fá giọng hát của Elena Souliotis (1943-2004), một trong những soprano tài năng thập niên 60,70 . Elena Souliotis, soprano Hy Lạp, (nếu YIH k0 nhầm hình như là học trò nổi tiếng cuối cùng của nhà sự phạm thanh nhạc tài danh Mercedes Llopart), từng ôm mộng Callas wanabe, nhưng đáng tiếc là giọng hát bị hỏng quá sớm. Souliotis cũng là đối thủ của nhân vật chính trong entry này, Ghena Dimitrova ở Abigaille trong suốt thập niên 70.

Download: Salgo gia del trono aurato – Nabucco – Verdi – Ghena Dimitrova

“Salgo gia del trono aurato” – cabaletta của Abigaile ngay sau aria “Ben io t’invenni”. Bối cảnh: Công chúa Abigaille con gái vua Nabucco phát hiện ra cuộn giấy da cổ viết về thân phận của mình. Hóa ra cô thực chất chỉ là con của 1 người nô lệ, còn Fenena, em gái cô mới chính là con gái của Nabucco, và đức vua muốn truyền ngôi cho Fenena. Fenena được Nabucco trao quyền nhiếp chính trong khi vua thì đang lãnh đạo quân đội để chống lại quân Judaea. Nghe tin đức vua bị tử nạn ngoài chiến trường, tham vọng, lòng ghen tị và hận thù trỗi dậy, cùng với sự ủng hộ của quan quân, Abigaille quyết định chiếm lấy ngai vàng, quyền lực. Cabaleta kết thúc với tiếng thét ngạo mạn, đắc thắng của Abigaille với Fenena: “Regie figlie qui verranno l’umil schiava a supplicar!” (Công chúa hãy đến đây mà quì gối trước kẻ nô lệ hèn mọn này )

Đây là 1 trích đoạn rất khó với soprano vì vừa đòi hỏi vừa phải có 1 giọng hát dày khỏe, vang lớn , nhiều nội lực, đủ sức vượt dàn hợp xướng, nhưng lại vẫn phải thật linh hoạt để chạy với 1 tốc độ khủng khiếp trên 1 chuỗi các note cao dồn dập với cường độ mạnh. Oái oăm hơn, Verdi còn viết thêm 1 note c3 kết fullvoice (tất nhiêu khi trên sân khấu và kể cả thu âm, rất nhiều sop kịch tính lẩn né tránh nó). Ngay chính cả đối với Dimitrova, khi biểu diễn trực tiếp, các nhạc trưởng cũng k0 cho fép kết bằng đố để đảm bảo an toàn của vở diễn (trong cả 2 buổi biểu diễn vở này của Dimitrova được ghi hình và fát hành DVD đều k0 có note đố này), tuy vậy, trong bản ghi âm studio với hãng DG, Dimitrova đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc với một note đố rực rỡ, chắc nịch k0 thể hoàn hảo hơn. Cabaletta này từng được vinh dự là nhạc chuông báo thức buổi sáng của YIH trong suốt nửa năm, hehe. (sáng nghe quát thế này, k0 tỉnh ngủ mới lạ)

Ghena Dimitrova, soprano Bulgaria, cùng với B.Christoff, N.Ghiaurov, R.Kabaivanska, Anna Tomowa-sintow,… đã làm nên trường phái thanh nhạc Bulgaria gây rúng động cả giới biểu diễn opera châu âu và thế giới. Sinh ra trong gia đình nông dân, nhưng nhiều thành viên trong gia đình đều biết chơi nhạc cụ và Dimitrova vẫn đc trưởng thành trong 1 môi trường âm nhạc tinh khiết. Sau khi chiến thắng tại 1 cuộc thi thanh nhạc toàn quốc, Dimitrova may mắn đc 1 suất học bổng 2 năm tại La Scala, nơi mà Dimitrova đã đc thọ giáo những giảng viên thanh nhạc hàng đầu của Ý như Renato Pastorino, Enza Ferrari, Renata Carosio và đặc biệt là Verdian Soprano nổi tiếng thập niên 30-40 Gina Cigna (1900-2001). Giọng hát kịch tính hiếm có của mình, Dimitrova trở thành 1 trong nhứng soprano hàng đầu của những vai nặng của Ý (và thật tiếc là bà lại ít quan tâm đến những repertoire Đức, k0 thì rất có thể chúng ta sẽ có 1 Brunhilde hay Elektra đáng gớm của thập niên 80).

Có thể nói j` về giọng hát của Dimitrova? Một giọng hát khổng lồ, kịch tính bẩm sinh, mãnh liệt, rực lửa, tròn đầy trong cả 3 âm khu. Tuy là giọng hát kịch tính, nhưng k0 như nhiều sop khác, Dimitrova vẫn giữ được 1 âm thanh đẹp, và rất “tươi” ở cả âm khu cao và trầm (điểm khác biệt cơ bản với Callas hay Souliotis trong các vai kịch tính), và điều này cũng lí giải vì sao mà La Scala nói riêng và dân Ý nói chung rất ưa chuộng Dimitrova. “Vở opera debut của tôi là Nabucco (với Abigaille – YIH), khi ấy tôi mới 25t. Tôi luôn khai thác giọng hát ở cả 3 âm khu: cao, trung, trầm, nhưng thậm chí dù có phải vắt kiệt nó, tôi cũng k0 bị lạc giọng“. Khả năng diễn xuất của Dimitrova k0 thật sự nổi bật, và có vẻ như bà cũng k0 cố gắng trau dồi, hoàn thiện nó, di chuyển trên sân khấu rất hạn chế, động tác nghèo nàn, nhưng toàn bộ tính kịch, cảm xúc đều đã được thể hiện đầy đủ qua âm thanh của giọng hát rồi. Với La Gioconda tại nhà hát Barbican, Dimitrova cho rằng: ” Nhà hát Barbican có 1 fòng biểu diễn rất lớn với đầy những thanh xà chống. Tôi biết là khán giả ở đấy hiều điều này, sẽ có những tràng fáo tay vang dội cho romanza “Suicidio!”. Không thể quá bảo toàn giọng hát ở đây được. Tôi k0 đồng ý với những sở thích thời thượng của nhiều người là hay dùng những note vuốt nhỏ pianissimo thay cho 1 note cao forte (to, mạnh). Bạn k0 thể chối từ hay cố kìm nén mình khỏi cái cảm giác tuyệt vọng đang tuôn trào ra. Người ca sĩ opera phải cuốn trôi cả nhà hát bằng âm thanh của giọng hát mình, k0 một thứ diễn xuất xuất nào có thể thay thế cho tiếng thét từ nỗi đau tận cùng của nhân vật. Thực tế là, thứ cảm xúc hơi quá đà ấy hiệu quả hơn hẳn so với cách thể hiện yếu ớt kia…”

Dimitrova k0 sợ những note cao forte, fortissimo làm hỏng giọng hát, bà từng là 1 mezzo với âm vực phát triển lên soprano, thậm chí còn đóng thành công cả Amneris (Aida). Tuy vậy, giống Birgit Nilsson, Dimitrova cũng hạn chế sử dụng giọng ngực để làm tối giọng hát. Luôn tự hào với âm lượng khổng lồ của giọng hát mình, dường như sắn sàng upstage bất cứ tenor nào hát cùng: Tôi đã từng biểu diễn với những giọng tenor đẹp nhất trong thời kì của tôi, sự kết hợp của chúng tôi thực sự rất thú vị. Tuy nhiên, nhiều nguời trong số đó luôn cần biết giọng soprano hay những bạn diễn cùng họ là ai, còn tôi thì chẳng bao giờ phải lo lắng đến điều đó.” Có giai thoại cho rằng, chính Domingo đã từng hốt và bỏ vai khi duet với Dimitrova trong Turandot. Nhưng may mắn, Domingo cũng kịp có 1 buổi biểu diễn có ghi hình Turandot với Dimitrova để tinh vi. Còn trong I Lombardi, có thể chứng kiến một Carerras trẻ măng với giọng hát tuyệt đẹp bị bóp nghẹt bởi giọng hát khổng lồ của Dimitrova thế nào (điều naỳ có thể liên tưởng đến duet trong Turandot giữa Bjorling với Nilsson hay duet Mimi-Rodolfo (La Boheme) giữa Tebaldi và (lại) Bjorling)

Chính vì sở hữu âm lượng khổng lồ, Dimitrova luôn gặp khó khăn với việc ghi âm. Bà luôn bị yêu cầu phải đứng sau dàn hợp xứong hay bạn diễn để đảm bảo tính cân bằng của âm thanh của các giọng hát. Ngay cả với Abigaille, Dimitrova cũng đc những kĩ sư âm thanh lịch sự mời đứng cách mic … 3 feet trong khi thu âm. Thật đáng tiếc là chúng ta không còn được nghe trực tiếp tại nhà hát những âm thanh sống động, rực lửa của Dimitrova nữa.

Dimitrova luôn là 1 trong những fav dramatic sop của tớ, dù bà k0 có kịch mục đa dạng và giọng hát nhiều hạn chế. Nhưng chỉ với Abigaille, cũng đủ để k0 thể k0 1 lần giới thiệu về Dimitrova.

(Ps: lần trứoc TX than fiền về các em trẻ đẹp, nên h quay lại một chị … cá sấu Ghena, hehe)

Bonus: Salgo gia del trono aurato – Nabucco – Elena Souliotis (nghe để so sánh)