Đừng hát nữa người đẹp ơi…

lina-mkrtchyan

Lina Mkrtchyan (Contralto)

Chúng ta đều biết mối quan hệ thân tình giữa “mặt trời thi ca Nga” – Puskin và “cha đẻ của âm nhạc cổ điển Nga” Glinka. Glinka từng viết nhiều bản romance cũng như opera dựa trên thơ của Puskin. Bản thân Puskin cũng từng có một số tác phẩm được gợi cảm hứng từ âm nhạc Glinka. Một trong số đó là bài thơ “Не пой, красавица, при мне” (Đừng hát, người đẹp ơi, khi có tôi).

Đừng hát nhé, người đẹp ơi, khi có tôi
Những bài ca Gruzia buồn bã,
Lời em hát khiến tôi nhớ quá
Quãng đời đã qua nơi bến bờ xa.

Lời em ca sao trở nên nghiệt ngã
Khi bắt tôi nhớ đến một thời
Trên thảo nguyên với những đêm trăng sáng,
Và nhạt nhoà mờ xa bóng một người.

Gặp em tôi tưởng như quên được,
Hình bóng thân yêu, số phận một thời,
Nhưng em hát và trước tôi lại hiện
Hình bóng xưa, làm sao quên, em ơi.

Đừng hát nhé, người đẹp ơi, khi có tôi
Những bài ca Gruzia buồn bã,
Lời em hát khiến tôi nhớ quá
Quãng đời đã qua nơi bến bờ xa.

(bản dịch thơ của chị Quỳnh Hương).

Trong một lần đến thăm Glinka, Puskin được nhà soạn nhạc chơi cho nghe giai điệu của một bài hát dân ca Gruzia. Bài hát này vốn Glinka thu thập được từ những bản dân ca mà nhà thơ A.Griboyedov mang về từ xứ Kavkaz. Cảm tác trước giai điệu buồn bã quyến rũ mang âm hưởng phương Đông lạ lẫm, Puskin đã viết bài thơ này, đề tặng cho Anna A.Olenina – con gái của một trí thức nổi tiếng đương thời và cũng là người thường xuyên biểu diễn những bản romance xinh xắn của Glinka tại tư gia của ông cho nhà thơ nghe.

Rất nhiều nhà soạn nhạc Nga nổi tiếng đã phổ lại bà thơ này, trong đó có cả Glinka. Tuy nhiên phiên bản nổi tiếng nhất và thường xuyên được biểu diễn nhất lại là bản Romance op.04, No.04 của nhà soạn nhạc Lãng mạn S.Rachmaninov. Bản romance nằm trong tập “6 ca khúc trữ tình” op.04, một trong những sáng tác thời kì đầu, khi Rachmaninov vẫn còn đang theo học tại nhạc viên Mátx-cơ-va, và được đề tặng cho cô em gái họ Natalia Satina, người sau này cũng trở thành vợ ông.

Đưới dây là phần thể hiện của giọng contralto thính phòng xuất sắc người Nga gốc Ucraina, Lina Mkrtchyan. Giống như các giọng mezzo, contralto Đông Âu nổi tiếng thế hệ trước, Lina sở hữu một giọng nữ trầm quý hiếm, hùng vĩ, tôn nghiêm như tiếng đàn organ, mang màu sắc sử thi lồng lộng, gần như phù hợp hoàn hảo với các tác phẩm âm nhạc tôn giáo. Với 17 năm đào tạo tại những nhạc viện tên tuổi nhất của Nga (Gnesin, Tchaikovsky,…), không chỉ có giọng hát với âm sắc đẹp bẩm sinh, nhạc cảm xuất sắc, Lina còn sở hữu một nền móng kĩ thuật vô cùng chắc chắn, cô luôn năm trong số những giọng contralto tài năng nhất của Nga thế hệ này.

Lina tập trung cho sự nghiệp hát thính phòng (chủ yếu là Romanca Nga và âm nhạc tôn giáo), cô hầu như không tham gia biểu diễn opera, cũng không nhận được sự lăng xê, chăm bẵm của những hãng đĩa lớn nên không nhiều người hâm mộ biết đến cô. Tuy vậy, các bản thu âm của cô luôn được giới phê bình đón nhận và dành tặng những lời khen ưu ái. Cô là người Nga đầu tiên được hát tại Vatican và cũng là người nước ngoài duy nhất được mời tham gia biểu diễn tại festival âm nhạc quốc gia danh tiếng của Đức, Shubertiana.

Advertisements

Winterreise – Der Leiermann

Quasthoff-Thomas-11

Thomas Quasthoff (1959)

Schubert bắt đầu bắt tay vào sáng tác “Winterreise” – D911 (Hành trình mùa đông) từ năm 1827 và hoàn thành nó chỉ vài tháng trước khi ông qua đời vào tháng 11 năm 1828. Nửa sau của tập liên khúc phổ từ 24 bài thơ của Wilhelm Müller này, thậm chí chỉ được xuất bản sau khi Schubert đã ra đi. “Winterreise” được coi như một trong những tác phẩm đỉnh cao không gì so sánh trong gia tài Lied khổng lồ với hơn 600 ca khúc nghệ thuật của Schubert.

“Winterreise” không chỉ cho thấy tài năng của Schubert trong nghệ thuật sáng tác ca khúc, với những giai điệu đẹp, có sức khơi gợi cảm xúc mạnh mẽ, mà nó còn mở ra cánh cửa thế giới nội tâm bên trong chính Schubert, như lời quả quyết của chính ông “Chúng đã gây xúc động với tôi hơn bất cứ Lied nào mà tôi từng sáng tác.”.

Schubert đã bắt đầu viết “Winterreise” trong khoảng thời gian tương đối khó khăn với một tâm trạng đầy u ám. Trước biểu hiện không bình thường dễ nhận thấy, một người bạn thân của Schubert khi ấy tỏ ra rất lo lắng liền hỏi han xem ông có vấn đề gì muốn được chia sẻ không. Đáp lại, Schubert giới thiệu về tập liên khúc đang thai nghén của mình và úp mở rằng: “Anh sẽ sớm được nghe nó và sẽ hiểu ngay thôi…”

“Winterreise” kể về cuộc hành trình trong mùa đông của một cậu thanh niên trẻ tuổi. Anh từng gặp gỡ, yêu và có hẹn ước với một người con gái xinh đẹp trong những ngày tháng 5 mùa xuân ấm áp. Nhưng cô gái phụ bạc tình cảm của anh để cưới một người đàn ông giàu có. Chàng trai lặng lẽ ra đi trong tâm trạng buồn bã chán chường, cùng những chăn trở, suy tuy về tình yêu và người con gái anh đã từng yêu. Anh cứ lang thang vô định mãi trên con đường mùa đông lạnh lẽo…

Dưới đây là bài cuối cùng, No.24: “Der Leiermann” (Người chơi đàn quay), cũng là bản Lied yêu thích nhất của mình trong “Winterreise”, với phần thể hiện đầy ám ảnh của giọng bass-baritone người Đức tài năng – Thomas Quasthoff – một trong những ca sĩ thính phòng hàng đầu của thế hệ. Tuy không nằm trong số những người hát Schubert yêu thích nhất của mình, nhưng giọng hát đặc biệt của ông, lối thể hiện chuẩn mực, thâm sâu, chi tiết gợi nhớ đến “Master of Lied” – Fischer-Dieskau, nhưng vẫn lấp lánh những xúc cảm rất tinh tế – điều thiếu vắng ở ngay cả những vị tiền bối bậc thầy, luôn khiến mình nhìn thấy những vẻ đẹp mới từ những bản Lied quen thuộc.

My top 20 favourite Mezzo-sopranos & Contraltos – Part 3 (end B-))

mezzo3

  Thế là cuối cùng thì tôi cũng hoàn thành nốt được cái danh sách này (dù đáng lẽ là nó đã bị bỏ lửng như rất nhiều bài viết “to be continued” trc đây của tôi). Khi bắt tay vào việc lựa chon các bản thu âm điển hình cho các nghệ sỹ, tôi như lạc vào mê cung không thể tìm thấy lối ra, đôi khi chán chẳng muốn tiếp tục nữa … Tôi xin kể 1 chuyện dưới đây:

  Khi nghe lại 1 vài bản ghi âm của Grace Bumbry, tôi thực sự bị ấn tượng mạnh bởi aria của Orfeo: “Che faro senza Euridice”. Một giọng hát đẹp rực rỡ  khiến tôi bị cuốn hút dù trước đây chưa bao giờ tôi thấy quá thú vị với aria nổi tiếng này. Gần như ngay lập tức, tôi đã chọn nó. Cùng lúc ấy, tôi cũng muốn đọc lại libretto, tìm nghe lại những bản ghi âm “Che faro…” khác như của Callas, của Ferrier, của Baker, của Stignani, của Verrett … để kiểm nghiệm. Oái oăm thay, tất cả tôi đều thấy … hay hơn Bumbry! Là sao? Tôi không thể hiểu được. Tôi đã nghe những bản thu âm kia trước rồi cơ mờ, sao bây giờ sau khi nghe Bumbry hát, tôi mới thấy họ hát hay? Phiên bản của Bumbry tempo khá nhanh và thậm chí là hát hơi vô cảm, hơi mechanical dù âm sắc bà tuyệt đẹp. Đây là cảm xúc của một người chồng khi “tận mắt chứng kiến người vợ yêu thương của mình qua đời  và vĩnh viễn khổng thể trở lại thế gian” sao? Không, đấy rõ ràng không phải là điều Gluck muốn, không phải là thứ âm nhạc mà Gluck muốn. Gluck viết “Orfeo ed Euridice” không hề dành cho những giọng hát đẹp hay những ca sĩ chỉ biết phô diễn kĩ thuật hoa mỹ phù phiếm thời ấy, mà đó là thứ âm nhạc gắn liền với những xúc cảm mạnh mẽ từ kịch tính sân khấu và lời thoại – 1 sự cách tân táo bạo đã ảnh hưởng đến rất lớn tới nhiều nhà soạn nhạc lỗi lạc sau này mà điển hình là Wagner.  Và tôi đã loại bản ghi âm này đi, với 1 chút lấn cấn…..

   Tôi nhớ 1 cựu moderator trước đây trong  nhạc cổ điển của ttvnol và cũng là 1 người bạn mà tôi vô cùng quý mến từng kể rằng anh không hề cảm thấy dễ dàng khi nhận xét những nghệ sỹ đỉnh cao ở cùng 1 tác phẩm, ai hay hơn ai, ai kém hơn ai như nhiều người khác. Không phải là không đủ sự tinh tế hay sự lắng nghe kỹ lưỡng, nhưng thực sự khó có thể đủ tự tin để có thể đưa ra 1 lời đánh giá (dù là ở mức độ amateur nhất) tài năng của các tên tuổi lớn khi chúng ta không phải những professional critics, musicologists,… Cùng lắm là “thích thú phần biểu diễn này hơn”, “âm nhạc này gần với cảm nhận của mình hơn”,… như thế cũng đã là “tỏ vẻ nguy hiểm” lắm rồi.  Một câu chuyện khác tôi còn nhớ mang máng. ở diễn đàn nhaccodien.info, ngày tôi còn làm Mod thanh nhạc cách đây vài năm, có 1 topic được đặt ra: “Giữa Mozart và Beethoven, ai thiên tài hơn?”, rất nhiều bình luận đưa ra và đều có những quan điểm mạnh mẽ bảo vệ ý kiến của mình, nhưng tôi chỉ nhớ duy nhất ý kiến của Mod Tocky (cũng là 1 pianist chuyên nghiệp): “Ôi – sao lại đi so sánh thiên tài…”.

  Thực ra tôi không được như anh bạn tôi, tôi vốn là người cảm tính và chả ngại ngần đưa ra những ý  kiến  mang tính  “chém gió” (dù có thể 1 thời gian ngắn sau, tôi đã thấy nó cực  kỳ ngu ngốc). Tôi vốn đã lựa chọn những bản thu âm xuất sắc khác để thay thế, (“El amor Brujo” – Falla, aria Jeanne D’Arc: “Oui, Dieu le veut – Adieu, forets”  – Tchaikovsky,…), nhưng đến lúc bắt tay vào viết entry này, tôi đã quay về lựa chọn ban đầu “Che faro senza Euridice” (!) . Tôi nghĩ rằng, dù không hẳn nó là phần thể hiện ấn tượng nhất hay điển hình nhất của Bumbry, nhưng thứ  ÂM NHẠC mà từ đó Bumbry mang lại dã khiến tôi thấy thích thú với aria này, khiến tôi muốn tìm hiểu nó sâu sắc hơn. Tôi nghĩ tôi phải học cách đối diện “chân thực với cảm xúc” của chính bản thân mình như Ebe Stignani – 1 cái tên tôi không ngại ngần xếp vào danh sách này dù tôi mới chỉ nghe rất ít…

  Tôi kể ví dụ này chỉ vì muốn nói rằng, việc thực hiện cái danh sách này không hề đơn giản với tôi, dù nó hoàn toàn chỉ mang ý nghĩa cá nhân. Tôi nghe vài ba bản thu âm của 1 vài cái tên quen thuộc trong cái tủ đĩa ít ỏi của tôi, và thế là tôi đưa ra những lời phán như thánh sống =)). Cái danh sách này có đáng để tham khảo, đáng tin cậy khi bạn muốn tìm hiểu những giọng mezzo trong thanh nhạc cổ điển không? Không, chắc chắn là không, chẳng có 1 thứ đáng tin nào trong cái mớ ngớ ngẩn này cả. Nhưng nếu bạn chia sẽ những ý kiến, cảm nhận của bạn với những sự lựa chọn của tôi, có thể chúng ta sẽ có những trao đổi thú vị .

Part 1: No.01 -> N0.06.

Part 2: No.07 -> No.12.

c1-anne-sofie-von-otter

13. Anne sofie von Otter (1955~) – Swedish mezzo-soprano.

  Người đầu tiên bắt đầu part III này , tôi còn không nhớ là tên đầy đủ được viết như thế nào. Tôi thường chỉ nhớ đến bà ngắn gọn là von Otter mà thôi. Thực ra vị khi tôi dự định thực hiện danh sách này von Otter vốn ở vị trí thấp hơn nhiều. Nhưng ngay sau khi nghe bản lied vô cùng đáng yêu của Mozart : “Komm liebe Zither, komm”, tôi như có một nguồn năng lượng mới để tiếp tục công việc dở dang này.

  Số lượng album von Otter ghi âm chỉ tính riêng ở hãng DG đã gấp nhiều lần số đĩa nhạc của bà mà tôi có. Càng nghe tôi càng cảm thấy thiếu tự tin khi giới thiệu về bà – một trong những mezzo-soprano bản lĩnh nhất hiện nay. Von Otter là người rất thông minh, điều đó không chỉ thể hiện trong cách xử lý tác phẩm vô cùng tinh tế và sâu sắc, mà cả ở cách bà lựa chọn các repertoires cũng như con đường phát triển sự nghiệp của mình. Von Otter không phải là kiểu nghệ sỹ bản năng, bốc đồng, bất ổn và lúc nào cũng tràn đầy năng lượng như những prima donna khác. Tất cả các bản thu âm dù là studio hay live đều cho thấy 1 Von Otter rất tỉnh táo, sắc sảo và có sự thấu hiểu thứ âm nhạc phát ra từ chính cổ họng mình. Có vẻ như những cảm xúc bà tạo ra hoàn toàn từ âm nhạc, không phải từ bản thân của bà (tôi có võ đoán không nhỉ). Tôi không thấy bà quá say đắm, mê muội trong âm nhạc, nhưng thứ âm nhạc bà mang lại lại vô cùng cuốn hút. Carmen của von Otter hơi thiếu nồng nhiệt, thậm chí lạnh hơn cả Elina Granca hay Magdalena Kozena (những người hát Carmen rất “tỉnh” và có type giọng, phong cách gần với von Otter). Nếu có được 1 hỗn hợp giữa Christa Ludwig và Janet Baker, ta sẽ có 1 hình dung gần với von Otter nhất. Von Otter hát Baroque, đặc biệt là Bach, lạnh vừa đủ, tỉnh táo vừa đủ và gần như là không có tì vết. Ở mảng ca khúc thính phòng, trước và sau thế hệ của bà, rất hiếm người có thể chạm tới những thàn tựu bà đã gâ dựng.

  Sự yêu thích của tôi với von Otter đến 1 cách từ từ, dần dần chứ không là 1 sự lôi cuốn tức thời. Thậm chí nó trồi sụt theo mỗi album mà tôi nghe. Giống Janet Baker, von Otter rất hiếm khi động đến những vai diễn opera thời kỳ lãng mạn. Thậm chí bà còn ghẻ lạnh Bel canto dù kĩ thuật coloratura trong “Nacqui all’affanno e al pianto” của bà khiến tôi bất ngờ. Ngay kể cả thế mạnh âm nhạc Baroque, von Otter cũng không hề ôm đồm những tác phẩm đòi hỏi phô diễn kĩ thuật chạy note quá phức tạp. Với artsongs, lieder, melodies,… bà né tránh hoàn toàn cách thể hiện uỷ mị, kịch tính như 1 số ca sĩ cùng thế hệ. Bắt đầu từ album “La bonne chanson” của von Otter, tôi mới thực sự quan tâm đến Melodies. Von Otter hát tỉnh táo, nhưng hiếm khi tạo cảm giác khô cứng, lạnh lẽo. Bà là người kế vị xứng đáng cho E.Schwarzkopf và D.Fisher-dieskau. Âm sắc giọng hát không phải đẹp một cách lộng lẫy và đặc biệt, tuy vậy nó rất vừa tai, điều đó khiến ngay cả những tác phẩm có giai điệu khó nắm bắt cũng không quá khó nghe.

  Von Otter không bao giờ đóng khung mình, bà hát từ dân ca khắp các nước, rồi jazz, pop thậm chí cả những ca khúc của … Abba hay những nhà soạn nhạc ít tên tuổi. Rất nhiều người lên án những dự án cross-over của von Otter, nhưng tất nhiên, không 1 ai nghi nghờ con người nghệ sỹ của bà. Von Otter không hề bước chân sang pop, jazz để kiếm thêm khán giả, để nổi tiếng hơn, để bán được nhiều đĩa hơn và càng không ôm mộng trở thành nghệ sỹ cross-over. Bà cũng không dùng cách hát cổ điển để trình diễn chúng. Bà hát vì bà thích, bả cảm nhận chúng, như bà nói, giống 1 “thiên thần ngang qua phòng tôi” (tên 1 ca khúc của Abba).

  Tôi thực sự bối rối khi lựa chọn 1 bản thu âm của von Otter, có rất nhiều tuyệt phẩm trong sự nghiệp ghi âm khổng lồ của bà, thế nhưng số tác phẩm khiến tôi thực sự rung động không nhiều. Một trong số ít đó là album Những ca khúc nghệ thuật của Grieg – “Grieg songs”. Tôi không biết diễn tả lại như thế nào. Tôi thực sự bị choáng ngợp, ngay từ ca khúc đầu tiên. Một album quá đẹp.

Download:

– Anne Sofie von Otter – Komm, liebe Zither, K.351 – Wolfgang Amadeus Mozart.

– Anne Sofie von Otter – Killingdans, Op.67, No.06 – Edvard Grieg.

c2-ebe-stignani

14. Ebe Stignani (1903-1974) – Italian mezzo-soprano.

  Phải thú thực rằng, tôi không biết nhiều về Stignani, và cũng không nghe quá nhiều bản ghi âm của bà. 2 bản ghi âm studio “Aida” (với Tebaldi), 2 bản ghi âm “Norma” (với Callas) đều được thực hiện ở nửa cuối sự nghiệp của Stignani khi giọng hát đã qua sườn dốc. Nhưng một giọng hát có vẻ đẹp khiến Simionato phải “phát điên lên” và vô cùng ngưỡng mộ thì hẳn phải là 1 cái gì đấy chứ. Những bản thu âm thực hiện vào thời kì 30s-40s, khi Stignani ở thời kì sung sức nhất cho thấy 1 giọng hát mezzo Ý thuần chất đẹp tự nhiên hoàn hảo. Tôi k0 dám khẳng định là tôi nghe nhiều, nhưng trong số những mezzo Ý tôi từng nghe, Stignani là mezzo có âm sắc đẹp đẽ nhất. Một giọng hát như thể Tebaldi có giọng mezzo, ấm áp, tròn trịa, đầy đặn, bỏ xa những giọng mezzo Ý đàn em thế hệ sau như Simionato, Cossotto. Cách bà hát Verdi là một khuôn mẫu đối với những Verdian mezzo sau này. Đôi khi đặt cạnh những bản ghi âm xuất sắc của Obraztsova (Verdian mezzo yêu thích nhất của tôi), tôi đã thầm tự hỏi rằng: “dường như Obraztsova có hơi quá…”.

  Ebe Stignani chính là mezzo đầu tiên thực sự nghiên cứu 1 cách sâu sắc opera Belcanto và làm sống lại nó. Trước Stignani, phần lớn các Belcanto repertoires cho mezzo chỉ quanh quẩn ở “Il barbiere di Siviglia”, “L’Italiana in Algieria”, “La Cenerentola”. Nên nhớ bản ghi âm studio “Norma” đầu tiên được thực hiện có sự tham gia của Ebe Stignani trong vai thứ Adalgisa (Gina Cigna hát Norma). Ebe Stignani không phải người có kĩ thuật coloratura xuất sắc, nhưng bà biến opera belcanto không chỉ còn là những màn khoe khoang kĩ thuật chạy note thuần tuý. Aria “O mio Ferrando”, dù thiếu vắng cabaletta nổ tưng bừng phía sau vẫn khiến chúng ta bất ngờ với vẻ đẹp của nghệ thuật hát.

Download:

– Ebe Stignani – Rataplan, rataplan – La forza del destino – Giuseppe Verdi.

– Ebe Stignani – O mio Fernando – La Favorita – Gaetano Donizetti.

c3-grace-bumbry

15. Grace Bumbry (1937~) – US. American mezzo-soprano.

  Từ trước khi Leontyne Price trở thành Prima donna của Met, ngay từ đầu thập niên 60s, Grace Bumbry đã gây chấn động những thánh địa opera Châu Âu như Bayreuth, Paris opera, Royal Convent Garden và tất nhiên là cả La Scala. Một sự khởi đầu đáng mơ ước với bất cứ ca sĩ opera nào chứ không chỉ đối với 1 nghệ sỹ da màu hoạt động ở thời kì chủ nghĩa phân biệt chủng tộc vẫn còn tồn tại. Nhưng, tôi không biết lý do làm sao từ thập niên 70 đổ đi, có rất hiếm những bản ghi âm studio xuất sắc của Bumbry, nó thực sự là dấu hỏi với tôi, những bản ghi âm live cho thấy giọng hát Brumbry vẫn k0 sút kém so với thời trẻ. Bumbry không hề bị xuống phong độ như Verrett, giọng hát rất khoẻ, mạnh, giàu cá tính với âm vực trải rộng từ alto đến soprano và dường như rất ít thay đổi chất lượng trong suốt sự nghiệp. Cá nhân tôi cho rằng, vấn đề của Bumbry cũng giống như Verret thôi, bà không phải là một người thông minh khi lựa chọn các vai diễn để phát triển sự nghiệp. Thay vì phong phú kịch mục trong giọng hát mezzo của mình, chỉ vì muốn được đứng ở vị trí Prima donna, Grace Bumbry nhận rất nhiều vai soprano, mà trong đó, với tôi, chỉ có Le Cid là thực sự đem lại chút ít ấn tượng đáng kể. Thành công quá sớm khi mới ngoài 20 khiến cho Grace Bumbry bị ngợp, bà không thể dừng lại, bà luôn phải đi lên. Có lẽ Grace Bumbry không hề có sự chuẩn bị trước cho sự nổi tiếng , bà đơn giản chỉ là 1 cô gái nhút nhát có giọng hát thiên phú, yêu ca hát, muốn được hát. Bà đã tỏ ra lung túng khi đón nhận sự nổi tiếng và thậm chí đã có những lựa chọn sai lầm như chính bà thú nhận trong rất nhiều bài phỏng vấn sau này. Dù những sự lựa chọn ấy không gây tác hại đáng kể cho giọng hát khoẻ khoắn bẩm sinh của bà, nhưng nó phần nào làm ảnh hưởng không nhỏ đến vị trí mà đáng lẽ bà đã hoàn toàn xứng được nhận – mezzo-soprano xuất sắc nhất của thập niên 70-80.

  Ở những bản thu âm đầu tiên vào cuối thập niên 50, giọng hát alto ngọt như mật và đặc quánh của bà khiến tôi sửng sốt, dù chỉ là những trích đoạn đơn giản trong oratorio của Handel. “El Amor Brujo” của bà là bản ghi âm xuất sắc nhất ở tác phẩm này với tôi. Nhưng Norma lại thực sự là thảm hoạ. Tôi không quen cách thể hiện Carmen của Bumbry, hơi lý trí và thiếu sự mềm mại. Verdi cũng vậy, dù bà luôn dư năng lượng và không có vẻ gì đuối sức với những note cao ác liệt.

  Tuy vậy Lieder là 1 phát hiện khá thú vị ở bà. Tôi không so sánh với Janet Baker hay Christa Ludwig, nhưng Bumbry hát Schubert và Brahms không hề ở đẳng cấp thấp hơn. Khi nghe 1 recital album của Grace Bumbry, cảm giác như bạn đang trải qua 1 giấc mơ đẹp, nhưng khi track nhạc cuối cùng dừng lại, giấc mơ ấy cũng tan biến và không còn đọng lại gì nữa. Rất khó duy trì cảm xúc thưởng thức sau khi nghe những album của Bumbry, nhưng một khi đã ấn nút play, không bao giờ bạn muốn nó bị dừng lại đột ngột.

  Một giọng hát đẹp có thể cũng đủ với tôi. Nhưng cũng có thể không.

Download:

– Grace Bumbry – Che faro senza Euridice – Orfeo ed Euridice – Christoph Willibald Gluck.

– Grace Bumbry – Litanei auf das Fest Aller Seelen, D.343 – Franz Schubert.

c4-brigitte-fassbaender

16. Brigitte Fassbaender (1939~) – German/Austrian mezzo-soprano.

  Tôi không biết vì sao với cùng 1 kiểu hát, tôi luôn thấy Agnes Baltsa gây khó chịu còn Brigitte Fassbaender thì mang lại sự bùng nổ, cá tính chấp nhận được. Tôi sẵn sàng ok 1 chút gai góc và coi nó như 1 điểm độc đáo của B.Fassbaender, chẳng hạn trong “O don fatale” trong khi vẫn là kiểu hát ấy, tôi lại thấy nó là “sự gào thét”, làm quá ở A. Baltsa. Thực ra tôi không ghét Baltsa, tôi chỉ thấy mình k0 hợp với phong cách của bà. Mỗi nghệ sỹ đạt đến 1 thành tựu nhất định, đều có “nghệ thuật” của họ và nó tác động với mỗi đối tượng khán giả khác nhau, đòi hỏi 1 sự công bằng cho tình cảm là không công bằng, tôi nghĩ vậy. Nhưng người tôi nhắc đến ở đây là Fassbaender k0 phải Baltsa, tôi chỉ cố lý giải cho những ấn tượng của tôi về 2 giọng hát mà tôi ít nhiều thấy sự tương đồng.

   Cá nhân tôi thấy, Brigitte Fassbaender là giọng mezzo soprano có âm sắc độc đáo nhất trong những mezzo tôi từng nghe. Tất nhiên mỗi người trong chúng ta đều có một âm sắc riêng, nhưng cái màu âm khác lạ của Fassbaender đối với tôi dường như tách biệt hẳn so với những mezzo khác. Bà không chối bỏ lối nhả chữ hơi nặng nề kiểu Đức và biến nó làm dấu ấn độc đáo của mình, nhưng k phải vì thế mà người ta xếp bà vào dạng nghệ sỹ Đức hạng 2, được các producer cố gắng thêm vào trong 1 all-stars production opera/operetta Đức-Áo để làm tăng tính địa phương, đẹp đội hình. Brigitte Fassbaender là 1 nghệ sỹ ở đẳng cấp thế giới, điều này không cần phải chứng minh dù cách thể hiện của bà – con đường mà bà đi không trùng lặp với bất cứ nghệ sỹ nào.

  Sẽ rất hài hước, nếu bảo rằng giọng hát của bà đẹp theo lối chuẩn mực, nhưng nó rất giàu sắc thái và đa diện. Bà không cố tình mềm mại hoá giọng hát sắc cạnh của mình nhưng vẫn luôn đảm bảo tính trữ tình khi cần. Với những repertoires kịch tính, bà ít tính toán hơn Christa Ludwig, thậm chí cảm xúc mãnh liệt hơn nhưng vẫn kiểm soát chúng 1 cách hiệu quả. Tôi bị Fassbaender chinh phục hoàn toàn với Brangane  trong Tristan und Isolde.  Charlotte (Wether) của Fassbaender đau đớn, vùng vẫy trong thứ tình yêu bị cấm đoán nhưng vẫn đầy nữ tính, sự cam chịu. Fassbaeder khắc hoạ ấn tượng 1 Klytemnestra (Elektra) tội lỗi, độc ác và luôn chìm trong trạng thái sợ hãi, mất kiểm soát. Christa Ludwig vẫn là giọng mezzo Đức vĩ đại nhất, nhưng Brigitte Fassbaender là giọng mezzo nghe “Đức” nhất với cái tai của tôi. Với Operetta Đức/Áo, Fassbaender là số 1 trong thế hệ của bà. Chỉ có bà mới vừa thể hiện được chất hài hước trong giọng hát cũng như khả năng diễn xuất độc đáo, đáng yêu và duyên dáng ở mỗi vai diễn. Ở Lieder, Không như kiểu thể hiện mẫu mực và sâu sắc như F-D, Schwarzkopf hay Baker,  bà thể hiện với 1 phong cách khác lạ hơn, với cách nhả chữ và nhấn nhá đầy cảm xúc mang nhiều dấu ấn cá nhân, gần với những gì mà tôi thấy ở Hermann Prey. Có thể có người thích hoặc không thích cách thể hiện Schubert của bà, nhưng album Richard Strauss & Liszt lieder của bà là 1 đỉnh cao ít người đạt tới.

  Không phải tất cả những gì Fassbaender thể hiện tôi đều yêu thích, nhưng khi cần tìm 1 cảm xúc mới ở 1 tác phẩm quen thuộc cho mezzo hoặc 1 bản lieder, Fassbaender có lẽ chính là người đầu tiên tôi nghĩ tới.

Download:

– Brigitte Fassbaender – Zueignung, Op.10, No.01 – Richard Strauss.

– Brigitte Fassbaender – Einsam wachend in der Nacht – Tristan und Isolde – Richard Wagner.

c5-nathalie-stutzmann

17. Nathalie Stutzmann (1965~) – French contralto.

  Có không ít ca sĩ nổi tiếng có thể chỉ huy, như P.Domingo, D.Fischer-Dieskau, S.Milnes,… tuy vậy số người vừa hát vừa cầm đũa như Stutzmann có lẽ là rất hiếm. Nhưng kể cả khi bỏ qua tài năng ấy, với hàng tá những giải thưởng danh giá, không ai nghi ngờ Stutzmann là 1 trong những contralto xuất sắc nhất của thế hệ chúng ta.

  Stutzmann không có giọng hát lồng lộng với những note thấp chắc nịch, thăm thẳm như Ewa Podles (cũng là 1 contralto tài năng mà tôi sẽ nhắc đến sau đây),  tuy vậy giọng hát ấm áp và cách xử lý âm nhạc thông minh của bà khiến những ca khúc nghệ thuật nhỏ xinh hay những aria đơn điệu, lê thê thời kỳ Baroque – những repertoires chủ yếu của, bà trở nên phong phú, nhiều màu sắc và giàu cảm xúc. Lieder của Schumann đặc biệt là “Die Frauen Liebe und Leben” không có nhiều người thể hiện xuất sắc hơn, ngay kể cả những nghệ sỹ của thời kì hoàng kim thập niên 50-60s. Bản thu âm “From Jewish Folk Poetry” của Shostakovich cùng Luba Orgonasova và Philip Langridge là bản thu âm studio tôi thích nhất của chùm tác phẩm này. Ngay cả những tác phẩm quen thuộc đến nhàm tai của Handel như “Ombra mai fu”, hay “Cara Posa”, Nathalie Stutzmann cũng mang lại những nét độc đáo và hấp dẫn rất riêng từ giọng hát contralto trầm ấm của mình.

  Nathalie Stutzmann có discography đáng nể, ngay từ cuối thập niên 80s, khi mới hơn 20t bà đã có nhiều bản ghi âm ấn tượng với hãng ghi âm danh tiếng RCA, tuy vậy không ít trong số đó tôi mới chỉ nghe một đôi lần và chưa muốn nghe lại, nó chủ yếu là do những repertoires bà lựa chọn chưa thực sự hấp dẫn tôi chứ không hẳn do tài năng của bà. Thực ra tôi vốn đọc rất ít về Stutzmann, cho đến gần đây tôi vẫn k biết rằng Stutzmann là người Pháp (vì cái tên có mùi rất Đức của bà). Dù sao thì Stutzmann vẫn là 1 trong số ít những nghệ sỹ đương đại mà tôi vẫn luôn theo dõi.

  Giờ đây dù đã  gần 50t, nhưng với sự đầu tư chăm chút của ông lớn DG, chắc chắn Nathalie Stutzmann sẽ tiếp tục đưa ra nhiều khám phá thú vị, những cuộc chinh phục âm nhạc mới trong tương lai.

– Nathalie Stutzmann – Sento in seno ch’in pioggia – Il Giustino – Antonio Vivaldi.

– Nathalie Stutzmann – Schast’je, Op.79a, No.11 – Dmitri Shostakovich. (with Luba Orgonasova – Soprano, Philip Langridge – Tenor)

c6-fiorenza-cossotto

18. Fiorenza Cossotto (1935~) – Italian mezzo-soprano.

  Fiorenza Cossotto –  cái tên đã làm mưa làm gió tất cả những sân khấu opera lừng danh nhất cũng như những all-stars casting opera productions ở những hãng đĩa tên tuổi nhất trong suốt hơn 2 thập niên 60s-80s, – người kế vị , thậm chí còn toả sáng hơn cả người tiền nhiệm tài danh Giulietta Simionato trong những vai diễn mezzo-soprano kịch tính, đứng ở vị trí gần cuối trong cái danh sách kỳ cục này. Sẽ có không ít người cho rằng đây là 1 trò đùa thiếu duyên.

  Nhưng thực sự đúng là vậy, dù tôi luôn thích giọng hát khổng lồ và rực lửa của Cossotto,  thậm chí khi mới triển khai danh sách này, tôi vốn xếp bà ở vị trí thứ 12, trên cả Verrets, von Otter, Bumbry,… nhưng khi nghe lại một loạt các bản thu âm, tôi lại dường như giảm dần sự hứng thú. Đối với mọi mezzo-soprano trước, sau và kể cả những người cùng thời với Cossotto, bà luôn là một dramatic mezzo soprano nằm ở top đầu , một Verdian mezzo ít người có thể so kè. Bà là người luôn gây cho tôi một ấn tượng mạnh mẽ ngay từ đầu, thế nhưng nó nhanh chóng bị thay thế bởi những giọng hát khác đẹp hơn hoặc giàu cảm xúc hơn hoặc kĩ thuật tốt hơn. Tôi rất khó khăn khi lựa chọn 1 bản thu âm điển hình của bà mà tôi yêu thích. Santuzza, Amneris, hay Azucena của bà dường như khó có thể tìm ra tì vết và chắc chắn là đàn em Dolora Zajick sẽ còn phải phấn đấu nhiều để sánh bằng, nhưng một cách cá nhân, tôi lại thích sự thể hiện của Obraztsova hơn. Cossotto hát “La Favorita” vô cùng xuất sắc, nhưng ở tất cả những aria đinh, đều không mang lại sự hấp dẫn cho tôi bằng Simionato hay thậm chí là Stignani. Khi nghe những note trầm dầy cồm cộp như con dấu đóng mạnh vào tờ giấy của I.Bogachyova hay Ewa Podles trong “Re dell’abisso”  tôi bỗng thấy phần thể hiện Ulrica đầy góc cạnh của Cossotto trở nên ít nhiều kém sắc. Và tương tự với Eboli, với lady Macbeth, với Dalila, với Carmen, với Rosina, với Cherubino, v.v…

  Tất nhiên, như đã nói, Cossotto không hề mờ nhạt, không phải dạng nghệ sỹ mà bạn dễ dàng có thể để trôi tuột qua tai mà không đọng lại gì. Bà còn là 1 nghệ sỹ cá tính mạnh (ngay cả ở ngoài đời), và chính cái cá tính mạnh ấy đem về cho bà 1 lượng anifan đáng kể khi bà không ngại ngần upstage những tên tuổi lừng lững như Maria Callas hay Leontyne Price ngay trên sân khấu trong những buổi diễn ở cuối sự nghiệp của họ (dù Cossotto luôn lên tiếng phủ nhận và đưa ra những lý giải riêng cho hành động của mình). Tôi không phán xét con người bà, ngay cả cả khi đã đọc về những scandals ấy, nó cũng không khiến tôi khó chịu vơi bà, vì dù gì với tôi, bà vẫn là 1 nghệ sỹ tài năng, một giọng mezzo không thể bỏ qua của thập niên 60,70.

  Tôi lựa chọn ở đây 2 bản thu âm mà tôi thấy thích thú nhất trong số những bản ghi âm của bà mà tôi từng nghe. Một trong 1 vở opera ít được ghi âm của Verdi “Un giorno di regno”, và một trong 1 recital album được ghi âm và xuất bản  vào thập niên 60, khi giọng hát của Cossotto đang ở thời kì vàng son.

Download:

– Fiorenza Cossotto – Grave a core innamorato … Se dee cader la  – Un Giorno di Regno – Giuseppe Verdi.

– Fiorenza Cossotto – Voce di donna o d’angelo – La Gioconda – Amilcare Ponchielli.

c7-ewa-podles

19. Ewa Podleś (1952~) – Polish contralto.

  Tôi rất tiếc rằng, dù đã gần bước vào nửa cuối sự nghiệp, một giọng contralto đẹp hiếm có như Ewa Podles vẫn không được một hãng thu âm “đại gia” nào để mắt tới. Phần lớn các bản thu âm của bà là các buổi diễn live hoặc những recital album cho các hãng đĩa không tên tuổi. Giọng Contralto thực sự đã là rất hiếm, nhưng giọng contralto có âm thanh dày và đẹp  như Ewa Podles còn hiếm hơn.  Ewa Podles sinh ra để dành cho những vai diễn như La Cieca (La Gioconda) hay Ulrica (Un Ballo in Maschera). Khác với kiểu giọng mạng tính thính phòng như Stutzmann, Ewa Podles là giọng hát dành cho các nhà hát với âm thanh khoẻ mạnh, vang dày, ngay cả ở những note thấp nhất cũng rõ ràng, đầy đặn không chút mờ xỉn.

  Ewa Podles sở hữu một âm vực đáng ngưỡng mộ, có thể so với Marian Anderson, cùng với kĩ thuật coloratura xuất sắc, thế nên không ngạc nhiên khi bà dễ dàng thành công với không ít kịch mục của Handel cũng như opera Belcanto. Tôi đã nghe rất nhiều người hát Tancredi xuất sắc trước đây, nhưng với phần rondo chói sáng ở màn cuối, Ewa Podles vẫn dư sức làm tôi há hốc mồm. Ngay cả những note Do cao thuộc âm vực soprano cũng không phải trở ngại đáng kể với bà, hơn thế, bà vẫn giữ được âm sắc sâu tối quyến rũ đặc trưng chứ không hề bị biến dạng hay thay đổi sắc giọng vì quá sức.

  Dù là một giọng nữ trầm tuyệt đẹp nhưng không hẳn là Ewa podles không phải là không có ít nhiều nhược điểm. Rất nhiều khi giọng hát của bà thiếu độ trữ tình và những đường legato mượt mà cần thiết, thậm chí lắm lúc khá nặng nề trong những tiểu phẩm thanh nhạc thính phòng. Bà hát Carmen (1 Carmen …contralto !!!) hay Rosina mang nhiều vẻ vụng về hơn là sự duyên dáng, nữ tính (Ewa Podles dường như phù hợp với những vai trouser roles mang tính heroic hơn). Càng lớn tuổi, Ewa Podles càng có những note thấp dầy đẹp, nhưng tiếc rằng, tuổi tác cũng làm giảm vẻ đẹp và sự chính xác của những note cao ấn tượng của bà.

  Đòi hỏi sự hoàn hảo của 1 ca sĩ đã bước vào tuổi lục tuần có lẽ là hơi tham lam, tôi không dám chở đợi hay hi vọng gì với những đỉnh cao mới mà Podles có thể sẽ tạo nên. Những gì bà đã làm được, với tôi đã là quá mỹ mãn rồi. Tôi xếp bà ở 1 vị trí khiêm tốn trong cái danh sách này như vậy, không phải vì những điểm yếu của Podles tôi đã kể ra ở trên (tôi làm màu hoa lá hẹ, bới bèo ra bọ vậy thôi chứ ai chẳng có tì vết, keke). Tôi đã nghe không ít rất những giọng hát đẹp, những mezzo/contralto tài năng nhưng cuối cùng vì lý do nào đó, tôi đã không chọn họ, tôi chọn Ewa Podles. Vậy là đủ.

Download:

– Ewa Podles – Perche turbar la calma (Rondo) – Tancredi – Gioachino Rossini.

– Ewa Podles – Nie ma czego trzeba, Op.74, No.13 – Frédéric Chopin.

c8-magdalena-kozena

20. Magdalena Kožená (1973~) – Czech mezzo-soprano.

  Tôi vốn không chọn Kozena cho cái danh sách này từ đầu. Thực tế là với những gương mặt mezzo xuất sắc hiện nay, Kozena cũng không phải cái tên quá nổi bật. Đánh giá 1 cách công bằng, âm sắc của Kozena không dầy, ấm như 1 Elina Granca đang ngày càng chín mùi, không có kĩ thuật coloratura chắc chắn với âm vực hoành tráng như Joyce Didonato, cũng không có sự sáng tạo và 1 cá tính sắc nét như Viviaca Genaux (người lúc đầu tôi chọn cho vị trí này). Ngay cả các đàn chị kém may mắn hơn, không vớ được 1 hợp đồng ghi âm béo bở với DG như Olga Borodina, hay Vesselina Kassarova, Kozena cũng tỏ ra nhợt nhạt hơn rất nhiều. Cùng 1 con đường và điều kiện, nếu như Von Otter đã khẳng định 1 cách chắc chắn vị trí của mình trong làng nhạc, Kozena vẫn nhiều khi chỉ được người ta nhớ đến vì cái bóng của ông chồng danh tiếng (nhạc trưởng Simon Rattle) hay là 1 nhan sắc (rất đau đớn khi phải thú nhận rằng: đã bắt đầu tàn tạ) đến từ Czech – vựa gái đẹp trứ danh của đông âu hơn là tài năng thực sự.

  Những bản thu âm đầu tiên mà tôi nghe của Kozena không hề gây ấn tượng gì sâu sắc. “Lamento” khiến tôi buồn ngủ. Tôi liên tục phải  ấn next khi nghe Vivaldi album. Và khó kiếm 1 ca sĩ nào hát opera Pháp khô khốc và vô duyên như Kozena (thế mà gần đây cô nàng dám tự tin thu âm complete cả … Carmen cơ đấy!!!). Ngay cả các ca khúc nghệ thuật Czech của những nhà soạn nhạc đồng hương (như  Dvořák, Janáček, Martinů,…) Kozena hát cũng không có gì quyến rũ hơn những người khác (dù album “song my Mother taught me” hát những ca khúc của các nhà soạn nhạc đồng hương được đánh giá khá cao và đạt nhiều giải thưởng uy tín).

  Như vậy thì Kozena có điểm gì nổi bật để tôi “yêu thích” để nhắc đến ở đây? Từ “ah mio Cor”, tôi đã bắt đầu có 1 cái nhìn khác về Kozena. Kozena có thể không hẳn là người hát Handel đỉnh nhất, nhưng là người tạo nhiều hứng thú nhất với tôi trong những aria của Handel. Kozena không sử dụng kiểu hát trơn tuột như Emma Kirkby, cũng không hát Handel theo phong cách belcanto phô diễn kĩ thuật màu sắc như nhiều tên tuổi khác thế hệ trước và kể cả gần đây (có thể kể đến Sills, Caballe, Horne,…). Thậm chí đôi khi cô tỏ ra kịch tính hơi quá mức cần thiết, tuy nhiên nó vẫn vừa ở giới hạn dễ chịu. Những note hoa mĩ cũng được cài cắm khá duyên dáng và không phô trương. Vẫn phong cách hát thông minh ấy, “Mozartiard” giúp tôi hiểu vì sao Kozena từng đạt giải vô địch cuộc thi thanh nhạc danh tiếng mang tên Mozart ở chính Salzburg – quê hương của nhà soạn nhạc thiên tài này, khi mới 22t. Kozena cố gắng hát 1 cách chân phương nhất, nhưng không phải kiểu hát trơn đơn điệu, không cố giả bộ trong vai 1 mezzo tuổi teen để hát thứ âm nhạc trong trẻo của Mozart. Quyết tâm làm tiến sâu vào địa hạt âm nhạc Baroque, tiền Baroque, “Lettere Amorose” như 1 cơn gió mát lành và dịu nhẹ khiến tôi thấy thân thuộc với thứ âm nhạc thời kì này hơn, dù album đó không được đánh giá tốt.

  Những bản thu âm tôi ấn tượng nhất ở Kozena chính là từ debut album “Bach arias” – 1 album mà gần đây tôi mới biết. Khi thực hiện album này cho 1 hãng ghi âm nhỏ của Czech, Kozena chưa hề nổi tiếng (dù đã giắt lung vài giải thưởng quốc tế) và cũng chưa gặp Simon Rattle.  Kozena mới hơn 20t, trong veo, tinh sạch và tươi tắn từ giọng hát đến phong cách thể hiện. Chưa bao giờ tôi cảm thấy cuốn hút với thanh nhạc của Bach như vậy. Tôi nghĩ rằng chỉ cần album này cũng đủ để khẳng định tài năng không thể chối bỏ của Kozena. DG sau khi đánh hơi được bản thu âm này, đã lập tức mua lại và phát hành dưới label của mình vào 2 năm sau cùng 1 hợp đồng ghi âm độc quyền hấp dẫn với Kozena. Album nhận được những lời phê bình hết sức hào phóng và 1 sự nghiệp quốc tế sáng lạn trải rộng dưới chân Kozena.

  Giọng hát ngày một định hình cá tính riêng, không phải kiểu trong veo, thơ ngây như lúc đầu, Kozena có thể hài lòng với những gì mình đạt được. Kozena chắc chắn sẽ không bao giờ trở thành 1 Janet Baker thứ 2 như người ta kỳ vọng, nhưng nếu nghĩ rằng chỉ vì là Lady Rattle mà Kozena có những thành tựu như hiện nay thì e là đánh giá này hơi hời hợt.  Tôi yêu thích nghệ thuật của cô, giọng hát của cô qua những bản ghi âm mà tôi đã nghe, và với tôi thì Kozena là 1 nghệ sỹ tài năng. Tôi yêu thích cô chỉ đơn giản vậy  thôi.

Download:

– Magdalena Kozena – Kommt, ihr angefochtnen Sünder, BWV.30, Nr.05 – Johann Sebastian Bach.

– Magdalena Kozena – Felici gl’animi – Girolamo Kapsberger.

altos

20 ++ , một vài (hay rất nhiều) người khác nữa …

  Trong dự định ban đầu của tôi, 2 vị trí cuối trong danh sách này vốn là contralto vĩ đại E. Schumann-heink và coloratura mezzo trẻ gốc Alasca, Vivica Genaux (hoặc Joyce didonato – 2 người tôi luôn phân vân). Tất cả chỉ thay đổi khi tôi nghe lại album Chopin của Ewa Podles và “Bach arias” của Kozena. (Cái nhận định hời hợt,”sống dựa nhờ anh chồng nổi tiếng” về Kozena chính là nhận định ban đầu của tôi chứ chẳng phải ai khác). Tôi đã làm 1 cuộc tái khám phá lại 2 giọng hát này. Và cuối cùng tôi đã dành 2 vị trí cuối cho họ. Nhưng điều đấy không có nghĩa là tôi đánh giá thấp hơn hay ít yêu thích Schumann-heink hay Genaux hay rất nhiều người khác nữa. Nó chỉ là vấn đề thời điểm. Còn rất nhiều tài năng khác, mà tôi cho rằng tôi không đủ tự tin đánh giá về họ khi tôi không có nhiều bản thu âm của họ, hoặc chưa gây 1 ấn tượng đủ mạnh để tôi tự tin rằng họ là “favorite artists” của tôi. Tôi muốn nhắc đến ở đây 1 vài cái tên khác nữa, rằng không phải tôi bỏ quên họ, không phải tài năng của họ chưa đủ hấp dẫn tôi mà chỉ là tại thời điểm mà tôi hoàn thành cái danh sách này, 20 người kia đã mang lại cho tôi nhiều cảm xúc rõ nét hơn chút ít.

  Tôi muốn nói đến Zara Dolukhanova, một giọng mezzo thính phòng xuất sắc người Armenian, một Berganza đầy tinh tế của Liên Xô thập niên 50. Một người nữa mà tôi muốn nhắc đến nữa là vị chủ khảo cuộc thi thanh nhạc danh tiếng Tchaikovsky năm 2007 – NSND Irene Bogachyova, người mà cả tài năng và giọng hát đều không thua kém E.Obraztsova, nhưng lại không may mắn có 1 sự nghiệp quốc tế như giọng ca đồng hương. Cũng không thể không kể đến Elena Cernei –  Nghệ sỹ công huân Rumani, một trong những nghệ sỹ đông âu có 1 sự nghiệp biểu diễn huy hoàng ở cả 2 bên bờ Đại Tây Dương suốt thập niên 60, từ Met đến La Scala lẫn cả Bolshoi, một giọng mezzo xuất sắc trên mọi phương diện (kĩ thuật, âm sắc, diễn xuất, ngoại hình), nhưng không hiểu sao không lọt vào mắt xanh của 1 hàng ghi âm lớn nào. Rồi những Rise Stevens, Regina Resnik, Tatiana Troyanos, Sigrid Oneghin, Fedora Barbieri, Irena Arkhipova, Clara Butt, Ernestine Schumann-heink, Jennie Tourel, vân vân và vân vân, …

  Tôi cho rằng rất nhiều người như Cernei, hay Podles, rằng vì 1 lí do nào đó, họ không để lại nhiều bản thu âm và được các hàng đĩa lỡn o bế dù tài năng và giọng hát của họ đã được khẳng định. Có nhiều người khác như Obukhova, như Stignani…, những bản thu âm có chất lượng âm thanh tốt chỉ được thực hiện khi họ đã qua thời kì hoàng kim. Càng khám phá các bản thu âm của các nghệ sỹ, tôi càng cảm thấy nó rất rộng lớ. Làm sao tôi có thể tìm nghe hết được , có thể tìm hiểu hết được. Những giọng ca đỉnh cao bị lớp bụi mờ của thời gian che phủ hay cả những giọng ca trẻ tài năng đang phải vật vã khẳng định mình trên con đường nghệ thuật chông gai hiện nay tại cái nơi mà ít nhiều bị chi phối bởi những thứ ngoài nghệ thuật như tính thương mại hay sự lạnh lùng của cỗ máy công nghiệp ghi âm. Họ ở đâu? Tôi có đủ tinh tường đề nhận ra họ không?

  Phần lớn những người trong danh sách trên đều là những người mà hầu như những người nghe và yêu thích opera đều biết tới, đơn giản vì họ có 1 sự nghiệp ghi âm (chứ không chỉ riêng biểu diễn) sáng chói với cơ man không biết bao nhiêu là album nhạc. Tôi chỉ việc nghe, và nhặt ra trong số đó thôi. Sự đánh giá, yêu thích, hơn kém hoàn toàn chỉ dưới góc độ cá nhân, chủ quan. Những người khác, thì chẳng qua là họ may mắn hơn khi những album không quá phổ biển của họ “may mắn” nằm trong kệ đĩa của tôi (hay chính xác hơn là tôi may mắn có duyên với bản ghi âm của họ).

– End –

Dietrich Fischer-Dieskau – The Master of Lieder

DIETRICH FISCHER-DIESKAU (Baritone)

28/05/1925 – 18/05/2012.

10h kém hôm qua , nhận được mess từ Phúc phan: Fiescher-dieskau vừa mất.

Lên Facebook đã thấy Pm của Trung Mai và status của Mr Cò.

…Ông đã 86 tuổi, ở cái tuổi này thì sự ra đi cũng đã được mọi người tiên lượng trước dù chẳng ai mong chờ. Thật chẳng biết viết gì và nói gì.

Download:

Lied: Waldesgespräch – Liederkreis op. 39, No. 03 –  Robert Schumann.

Dietrich Fischer-Dieskau (Baritone)

Christoph Eschenbach (Piano)

Recorded at Berlin-Lankwitz, Studio Siemens-Villa, in Jan 1974.

Tôi đang gần hoàn thành part 2 của serries Top20 mezzo-sopranos& contraltos. Thật trùng hợp, để lựa chọn bản thu âm điển hình giới thiệu về mezzo Christa Ludwig, tôi vừa tìm nghe lại bản Lohengrin (Rudolf Kempe chỉ huy đội hình Grummer, Thomas, Ludwig, Fischer-dieskau, Frick) – bản Lohengrin tôi yêu thích nhất. Toàn bộ màn 2, sự bùng nổ của cặp đôi Ludwig và Fischer-Dieskau như lấn át cả 2 vai chính Grummer và Thomas (phải nói thêm là Grummer là 1 trong những top fav soprano của tôi). Tôi từng nghĩ rằng Fischer-Dieskau thể hiện opera hơi khô, thiếu cá tính và theo chất oratorio hơi nhiều, kì thực tôi đã lầm . Fischer-Dieskau, giống Tito Gobbi vốn là người thông minh và rất chịu khó đào sâu vai diễn.  Điều mà tôi đã lầm tưởng chính vì giọng hát trữ tình rất sáng và đẹp (nhưng không có màu đặc biệt) của ông khiến nhiều vai diễn, nhất là với opera Verdi hơi thiếu sức nặng, độ đầy đặn về mặt âm thanh. Ông cũng không có xu hướng “sến” hóa, hoặc “tươi” hóa như H.Prey (most fav baritone của tôi) nên cách thể hiện của ông không được nhiều người yêu thích, dù rất nhiều critic đánh giá cao. Nếu bạn không nghe những bản thu âm (opera) của ông 1 cách kĩ càng, bạn sẽ thấy nó dễ dàng bị trôi tuột đi và thậm chí có thể đánh giá 1 cách phiến diện là nhạt nhẽo (như 1 sai lầm điên rồ đã từng của tôi).

Ở mảng Lieder và ca khúc thính phòng lại khác. Không 1 ai có thể nghi ngờ ngôi vị Master of Lieder của ông. Tôi chưa xem discography của ông nhưng riêng studio recording lieder của mỗi Schubert cho hãng Grammophon đã có những boxset hơn …20 đĩa! thậm chí gấp nhiều lần discography cả sự nghiệp biểu diễn của nhiều legend khác (đấy là chưa tính những composer khác, ở các label khác và các live perfs). Tôi không biết còn nghệ sỹ nào có từng ghi âm nhiều hơn ông không, nhưng quan trọng hơn, số lượng đồ sộ ấy vẫn đi kèm với chất lượng đỉnh cao. Mỗi bản thu âm đều là mẫu mực của nghệ thuật hát lieder. Với mỗi nghệ sỹ hát ca khúc, người ta chỉ có thể so sánh với Fischer-Dieskau , tỉ như chỗ này hát nhiều tình cảm hơn Fischer-Dieskau, bài kia hát bốc hơn ông, giọng này đẹp hơn ông, v.v… và v.v… Nhưng ở ông là sự cân bằng hoàn hảo, là chuẩn mực để mọi người so sánh (dù k phải lúc nào cũng có thể so sánh). Ông có sự nghiên cứu và phân tích tỉ mỉ, nghiêm cẩn từ tổng phổ đến lời thơ để có sự thấu hiểu sâu sắc nhất, chính xác nhất từ tác giả, tác phẩm điều mà với cá nhân tôi, trong số những lieder singer chỉ duy nhất E.Schwarzkopf là đạt tới (nhưng bà không có sự nghiệp ghi âm đồ sộ, cũng như sự đa dạng của Físcher-Dieskau).  Nghe các bản thu âm của ông với tôi là sự khám phá những tầng sâu của nghệ thuật hát lieder, của mỗi tác giả, ở mỗi tác phẩm, không phải là kiểu vừa nghe vừa có thể làm việc, thậm chí vừa có thể hát theo như H.Prey chẳng hạn. Chính vì thế, tôi cũng ít có thời gian nghe kĩ các bản thu âm của ông hơn (dù tôi cũng có vài chục CD của ông).  Tôi thậm chí còn từng chẳng nhớ nổi tên ông viết chính xác như thế nào, và để nhanh gọn, toàn viết tắt là F-D…

Nhưng chính Fischer-Dieskau cũng mở cho tôi những cách để tiếp cận với rất nhiều tác giả quen thuộc mà tôi vốn “khó vào”. Thật hài hước, một thời gian dài, tôi từng không hề thích bất cứ lied nào của Schumann trừ bộ “tình yêu và cuộc đời của người đàn bà” (Frauenliebe und lenben – op.42), cho đến khi một lần tình cờ ngồi bật lại album “Schumann Lieder” của DG (Fischer-Dieskau hát, Eschenbach & Demus đệm piano). OMG, Liệu tôi có thể ngô nghê, thiếu suy nghĩ đến mức dễ dàng đánh giá là Fischer-Dieskau khô khốc, thiếu cảm xúc? Ông thậm chí đôi khi còn nhiều cảm xúc hơn cả H.Prey với G.Souzay nữa, dù không thể hiện nức nở ra 1 cách dễ thấy. Hóa ra, tôi chỉ thiếu 1 đôi tai tinh tế và sự chăm chú lắng nghe kĩ càng mà thôi. Và từ đây, tôi tìm nghe lại những bản thu âm khác của ông và cả những nghệ sỹ khác để khám phá âm nhạc Schumann, Wolf, Mahler,… để tự xóa bỏ những định kiến ngớ ngẩn đã có và đang có của mình. Và không biết, đến bao giờ, tôi mới thoát khỏi cái “vũ trụ ca khúc” đấy đây…  🙂

Download: 

Lied: Ich will meine Seele tauchen – Dichterlieder Op.48, No.05 – Robert Schumann.

Lied: Und wüßten’s die Blumen, die klein – Dichterlieder Op.48, No.08 – Robert Schumann.

Dietrich Fischer-Dieskau (Baritone)

Christoph Eschenbach (Piano)

Recorded at Berlin-Lankwitz, Studio Siemens-Villa, in April 1975.

Xin gửi đến ông lòng ngưỡng mộ sâu sắc. Tài năng của ông, nghệ thuật của ông và hàng trăm bản thu âm tuyệt diệu ấy sẽ sống mãi trong lòng những người hâm mộ. R.I.P.

Figaro di Hanoi. 19/05/2012

My top 20 favourite Mezzo-sopranos & Contraltos – Part 1

  Đã lâu lắm rồi chưa viết 1 entry tử tế. Nhân một dịp rất giời ơi từ 1 status trên fb, ngồi làm 1 list các nghệ sỹ giọng mezzo và contralto yêu thích nhất của mềnh, và có cơ hội nghe lại 1 đống đĩa đã phủi bụi mà từ lâu không động vào…

  Tôi đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại rằng, trong các loại giọng chính của thanh nhạc cổ điển, mezzo là loại giọng tôi thích nhất. Đó là loại giọng của sự nổi loạn, say mê và quyến rũ. Các vai diễn quan trọng cho mezzo dù là vai chinh hay thứ cũng là những vai cá tính, giàu màu sắc, được tô đậm hơn so với những vai diễn chính của soprano. Các nhân vật vai mezzo trải qua hầu hết những tâm trạng, cảm xúc mãnh liệt của người đàn bà từ những đức tính tốt đẹp đến những góc tối xấu xa bên trong, từ 1 Carmen nổi loạn, đam mê, 1 Azucena u tối, 1 Công chúa Eboli ghen tuông mù quáng, đến 1 Isabella thông minh, cổ quái, 1 Preziosilla đầy nhiệt huyết dũng mãnh hay cả những vai trouser-role (vai giả nam) thú vị và độc đáo. Bản thân những ca sĩ mezzo cũng là những phụ nữ cá tính và cuộc đời nghệ thuật của họ luôn xuất hiện những câu chuyện huyền thoại hấp dẫn phía sau cánh gà.

  Ngược lại, những nghệ sỹ contralto lại là những nghệ sỹ rất bình lặng, họ không có gì ngoài giọng hát quí hiếm độc đáo của họ. Số giọng nữ trầm thực sự để lại tên tuổi hầu như rất ít và số người đi vào lịch sử có lẽ chỉ đếm được trên đầu ngón tay của 1 bàn tay. Vì vậy phần lớn các mezzo, nhất là mezzo kịch tính thường phong phú bản thân bằng cách cố đẩy các repertoire của mình xuống các vai contralto, và các contralto cũng thêm vào những vai diễn mezzo-soprano cho đa dạng ngoài những alto repertoire thường chỉ phổ biến trong âm nhạc baroque.

  Cho đến khi nghe lại các bản thu âm của nghệ sỹ mezzo-soprano và contralto, để nhặt ra những nghệ sỹ mang lại cho mình nhiều cảm xúc nhất, rồi việc cố khuôn vào cái khuôn top 10, 15, 20 hay bao nhiêu đấy quả là 1 việc k0 hề dễ dàng vì mỗi người đều có 1 sự nghiệp khổng lồ, đều sở hữu 1 tài năng lớn và giọng hát độc đáo, khác biệt. Nhưng nó cũng đem lại những trại nghiệm thú vị, khi ngồi nghe kĩ lại từng đĩa CD, từng album nhạc để lựa chọn những bản thu âm điển hình. Việc phân tích cảm xúc của chính bản thân là không tưởng, có lúc những nghệ sỹ tôi yêu thích nhất cũng làm tôi vô cùng mệt mỏi, ngược lại, những người vốn nằm trong top unfav lại mang lại cho tôi những góc nhìn mới lạ ở những tác phẩm quen thuộc mà tôi từng lơ đễnh bỏ qua. Thế nên, 1 câu rất quen, cái danh sách yêu thích nào đấy cũng chỉ là của thời điểm cụ thể nào đó mà thôi, rất có thể 1 thời gian sau, nghệ sỹ từng yêu thích nhất có thể k0 còn thấy hứng thú nữa, ai biết…

 

  01. Elena Obraztsova (1939~) , Russian/Soviet mezzo-soprano.

  Vài ba năm trước , tôi đã viết về bà – “1 giọng hát như tẩm xăng, chỉ chực bốc cháy mà lại phả ra hơi lạnh ngắt”, đến giờ cái ấn tượng ấy vẫn không hề phai nhạt, thậm chí còn mạnh mẽ hơn. Khi bắt đầu nghĩ đến cái list này, Obraztsova là cái tên đầu tiên xuất hiện trong đầu tôi, giống như M.Caballé (soprano), J.Bjorling (tenor) hay H.Prey (baritone). Obraztsova không phải là mezzo đầu tiên tôi nghe, và cũng không phải khi mới tiếp xúc với bản thu âm của bà (Cavaleria Rusticana) tôi đã mê luôn dù khá ấn tượng. Nhưng khi đến Il trovatore, tôi đã hoàn toàn bị đánh gục. Một dramatic mezzo hoàn hảo dành cho opera của Verdi với giọng hát mạnh mẽ, dồi dào, đặc chắc trong toàn bộ âm vực, những note cao mãnh liệt, những note thấp sâu thẳm của 1 contralto và 1 kĩ năng diễn xuất đầy cuốn hút. Không phải ngẫu nhiên Obraztsova đoạt giải nhất concuors Tchaikovsky thanh nhạc năm 70 (năm duy nhất mà Maria Callas tham gia chấm). Đã có 1 bài tiểu sử rất đầy đủ về quãng đời nghệ thuật của bà trên nhaccodien.info, có lẽ không cần nhắc lại.

  Mỗi lần nghe các bản thu của bà, bạn như muốn sôi lên theo từng note nhac, cái âm thanh cuồn cuộn trong giọng hát ấy, cái âm sắc với chất kịch tính bẩm sinh ấy cuốn trôi mọi cảm xúc của bạn. Obraztsova sở hữu giọng hát kịch tính, kĩ thuật chuẩn mực kiểu Ý, nhưng mang âm sắc Nga rất riêng biệt như 1 thứ mật ong ngọt sắc với hương vị lạ. Không phải mọi bản thu của bà đều xuất sắc, nhiều bản live thậm chí hơi “quá lửa”, nhưng 1 điều chắc chắn là, bản thu nào cũng tràn trề xúc cảm. Với Verdi- tác giả mà tôi yêu thích nhất, không 1 mezzo nào, kể cả Simionato, Cossotto, Gorr, Baltsa hay Zajick có thể vượt qua, đặc biệt là Azucena và Công chúa Eboli.

Download:

Elena Obraztsova – O don fatale – Don Carlo – Giuseppe Verdi.

Elena Obraztsova – Dark-Browed, Dark-Eyed –  Russian Folk Song.

02. Janet Baker (1933~), G.B. mezzo-soprano/contralto.

  “Grandi voci – Janet Baker – Bach,Purcell, Ravel” – là 1 trong những album thanh nhạc cổ điển đầu tiên tôi có. Đĩa tàu, lòng vàng, đã hỏng. Toàn bộ album là những tác phẩm không phổ biến (với tôi lúc đó và thậm chí kể cả sau này), và cũng không hề dễ nghe. Những tác phẩm thính phòng, baroque và lieder/artsongs là thế mạnh của bà. Càng nghe bà càng khó có 1 nhận định chính xác về giọng hát này, đôi khi rất tỉnh táo, sạch sẽ đến mức khô khốc, đôi khi lại đẩy đến giới hạn cuối cùng của mọi biên độ cảm xúc. Janet Baker yêu thích việc thu âm nên bà có một sự nghiệp ghi âm đồ sộ, so với các mezzo cùng thời, chỉ C.Ludwig là ngang ngửa. Riêng mảng lieder/art songs, có lẽ bà là nữ nghệ sỹ tôi thích nhất.

  Tôi từng bị ám ảnh bởi album “Janet Baker sing Mahler” (Emi) của bà. “The sea pictures”(Elgar) thì chắc chắn không có ai đạt tới. “Nuit d’été” (Berlioz) chẳng thua kém bản thu âm huyền thoại của Crespin là bao. Nếu 1 ai nghĩ J.Baker quá khô, nhạt hãy thử Hexenlied (Mendelssohn) hay Standchen (D.920 – Schubert) đảm bảo sẽ nghĩ lại. Một điều đáng tiếc là Baker né hầu hết các repertoire opera của thời kì Lãng mạn để bảo vệ thanh quản của mình. Đổi lại điều đó bà đã có 1 sự nghiệp dài đáng kể, ngay cả khi ở cuối sự nghiệp, đã nghỉ hưu, bà vẫn để lại những bản ghi âm đáng nhớ.

Download:

Janet Baker – Vergnügte Ruh – Cantata, BWV 170 – Johann Sebastian Bach.

Janet Baker – Hexenlied,  Op. 08, No. 08 – Felix Mendelssohn Batholdy.

03. Teresa Berganza (1935~) Spanish mezzo-soprano.

  Tôi từng rất không quá hứng thú với Berganza. Thật kì lạ, càng nghe bà lại càng thấy yêu thích hơn. Một giọng mezzo soprano với âm sắc sáng 1 cách lạ thường (lần đầu tiên nghe bà, thậm chí tôi đã nghĩ là 1 soprano) và cách thể hiện vô cùng thông minh. Không nhiều nghệ sỹ mà mỗi khi nghe lại phát hiện ra những điều mới mẻ thú vị hơn như Berganza. Khi nghe những mezzo màu sắc trữ tình như này dễ thấy nhạt nhẽo vì quá sạch sẽ (như J.Lammore hay F.von stade chẳng hạn) hoặc khô, lạnh vì quá tỉnh (như E.Garanca) nhưng ở Teresa Berganza lại không thấy điều đó. Bà thổi vào cách thể hiện của mình 1 phong cách rất Tây Ban Nha, sôi nổi, nồng nhiệt nhưng lại cực kỳ tinh tế duyên dáng chứ không thô lậu, hùng hục hay cố phô bày kỹ thuật chạy note thuần túy.

  Số mezzo mang lại cho tôi cái cảm giác dễ chịu, thư thái mà vẫn bộc lộ cá tính riêng như vậy không nhiều, ngoài bà chỉ có Zara Doloukhanova và thảng khi là Joyce di Donato – những người rất tiếc khi tôi k0 thể nhắc đến trong danh sách này. Berganza với âm nhạc của Rossini, Mozart và các tác phẩm Tây Ban Nha thật khó có người sánh bằng, nhưng điều quan trọng nhất, với cái tai tôi, âm sắc mezzo của bà đẹp hoàn mỹ.

Download:

Teresa  Berganza – Dunque io son  – Il barbiere di Siviglia – Gioachino Rossini. (duet with Hermann Prey – baritone)

Teresa Berganza – Cuatro canciones Vascas: Ai Isabel/Anderegeya/Loa-loa/Aldapeko Mariya – Felix Lavilla.

04. Marian Anderson (1897-1993) US. American contralto.

  Tất cả những thế hệ nghệ sỹ thanh nhạc cổ điển Mỹ gốc Phi đều nghiêng mình trước Marian Anderson, cho dù có là những prima donna đỉnh cao như Leontyne Price hay Kathleen Battle. Rất nhiều người biết điều đó, rằng tài năng của bà đã mở ra cánh cửa cho những ca sỹ opera da màu được đường hoàng đứng trên sân khấu của những nhà hát diễm lệ nhất, vĩ đại nhất. Ngay cả Sibelius cũng hào phóng dành những lời ưu ái nhất cho M.Anderson: “Mái nhà của tôi quá thấp với cô”. M.Anderson sở hữu âm vực tự nhiên đáng ngưỡng mộ (trải dài từ soprano đến …baritone!!!) với những note trầm thực sự, rất đầy đặn.

  Nhưng tất cả nhứng điều đấy không phải là lý do bà được nhắc đến ở đây. Anderson là contralto tôi yêu thích nhất, ngay từ lần đầu tiên nghe. Âm sắc giọng hát của bà ấm áp 1 cách kỳ lạ, kể cả những note thấp nhất nghe sâu thẳm, nhưng vẫn mềm mại, vừa tai. Một giọng hát nhiều sắc thái nhưng lại rất chân phương, tình cảm, tuôn chảy một cách du dương êm đềm như những lời thủ thỉ âu yếm. M.Anderson giống K.Ferrier, không phải những nghệ sỹ được đào tạo chuẩn mực, không có kĩ thuật virtuoso hoành tráng, nhưng lại là những giọng hát rất lôi cuốn và giàu nhạc cảm.

  Danh mục biểu diễn của bà rất hạn chế, một phần vì bà không có được nhiều tác phẩm phù hợp với giọng hát, một phần vì sự phân biệt đối xử với màu da của bà trong thể kỉ trước, nhưng Anderson vẫn kịp để lại nhiều bản thu âm quí giá. Một phần quan trọng trong cái gia tài ấy, bên cạnh những tác phẩm cổ điển chính thống, là những ca khúc Negro spiritual – những ca khúc tôn giáo của cộng đồng người nô lệ da đen Mỹ gốc Phi (một thể loại âm nhạc gốc rễ, đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành nhiều dòng nhạc đương đại như jazz, blue, gospel,…). Spiritual qua giọng hát của M.Anderson như mang lại niềm vui, nỗi buồn, sự thành kính và cả đức tin.

Download:

Marian Anderson – He’s Got the Whole World in His Hands – Spirituals.

Marian Anderson – Säv, säv, susa, Op. 36, No. 04 – Jean Sibelius.

05. Kathleen Ferrier (1912-1953) G.B. contralto.

Tôi đã xếp K.Ferrier vào “11 greatest classical voice in XX Century“, trên cả những Flagstad, Price và tôi vẫn chưa định thay đổi quyết định đó. Thực ra cách đây 3-4 năm, tôi không hề thích Ferrier đến vậy, một phần là tôi không thấy giọng hát của bà quá lộng lẫy, phần nữa vì những tác phẩm quan trọng trong danh mục biểu diễn của bà không nằm trong favwork của tôi thời ấy (Mahler, Gluck, Bach, Chausson, Schubert, Schumann,…). Vài 3 năm gần đây, tôi mới quan tâm nhiều hơn đến artsongs, nghe nhiều hơn và tự thấy là mình thật sai lầm khi từng bỏ qua cái mảng âm nhạc tuyệt vời này. Nhiều bản thu âm vốn bỏ xó lại được dịp lục lại, trong đó có nhiều CD của Ferrier. Rất nhiều khi, tôi mua 1 boxset CD chỉ vì 1 yếu tố rất nhỏ nào đó (vì 1 tác phẩm yêu thích với casting là những ca sĩ yêu thích, hoặc 1 tác phẩm hiếm, nghệ sỹ tài năng từng được nhiều ng nhắc tới nhưng ít thu âm, hoặc đơn giản hơn là vì hàng sales off giá khủng! 😀 ), và không phải lúc nào cũng hứng thú hết với tất cả các tracks trong CD ở những lần nghe đầu tiên. Lâu lâu, rảnh bật lại những đĩa cũ, lại phát hiện ra những vẻ đẹp mới từ những tác phẩm rất hay mà mình từng không để ý, hoặc những nhấn nhá, sáng tạo riêng rất nhỏ trong cách thể hiện của mỗi nghệ sỹ. Dần dần, những quan niệm, đánh giá về những tác phẩm, tác giả hay những nghệ sỹ được nhìn nhận 1 cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, những thành kiến (nếu có) ban đầu cũng nhạt phai đi. Nó như 1 khoảng lùi, 1 khoảng thời gian đủ để 1 tác phẩm hay giọng hát k0 hợp taste có thể thẩm thấu tự nhiên vào bản thân.

  Hơi lan man 1 chút và cũng chẳng nói gì nhiều về K.Ferrier vì thực ra đã nhắc đến bà trong enrty trước rồi. Chỉ biết rằng, càng nghe các bản thu âm của bà, càng thấy không thể cưỡng được sức hấp dẫn ngầm trong cái giọng hát rất có hồn ấy.

Download:

Kathleen Ferrier- An die Musik, D.547 – Franz Schubert.

Kathleen Ferrier – The stuttering Lovers – Folk Song (arranged by Hughes).

06. Cecilia Bartoli (1966~) Italian mezzo-soprano.

  Tôi định dừng cái part 1 này ở vị trí thứ 5 với Kathleen Ferrier, nhưng vì Bartoli, tôi đã phải kéo dài thêm 1 chút… Bartoli là 1 nghệ sỹ virtouso, 1 recitalist thậm chí là 1 nhà nghiên cứu âm nhạc hơn là 1 nghệ sỹ biểu diễn opera. Mấy năm trở lại đây, thấy Bartoli không còn mặn mà với những production opera nữa mà chìm đắm vào những dự án mới khôi phục nhiều tác phẩm bị quên lãng.

  Công bằng mà nói, Bartoli không có 1 giọng hát quá đẹp, và dù có đốt cháy những chuỗi note hoa mĩ ở tốc độ súng liên thanh, Bartoli vẫn bị những nhà phê bình thanh nhạc lẫn những giảng viên thanh nhạc chính thống lên án ở kĩ thuật hát thiếu chuẩn mực. Bây giờ là thời đại của những mezzo màu sắc, có quá nhiều tài năng: J.di Donato, V.Genaux, E.Garanca,… nhưng Bartoli vẫn có 1 vị trí đặc biệt trong lòng người hâm mộ. Bartoli dễ dàng cho khán giả thấy được niềm vui, sự đam mê của cô ở mỗi note nhạc. Rất nhiều người như tôi, yêu thích cô ở cái cách thể hiện sôi nổi đầy phóng khoáng và nghệ sỹ như thế. Con người bên trong của cô là âm nhạc, âm nhạc sống, âm nhạc nhảy múa, âm nhạc chảy lững lờ hay cùôn cuộn như thế nào, tất cả đều bộc lộ trong giọng hát của cô qua mỗi tác phẩm. Tôi ước ao giá như hoà nhạc Hennessy Việt Nam một lần mời đến Ceccilia Bartoli – 1 trong những nghệ sỹ thanh nhạc vĩ đại nhất còn biểu diễn hiện nay, người mà tôi vô cùng yêu mến, như thế thì cách gì cũng cố gắng chen chân vào NHL bằng được, hehe…

Download:

Cecilia Bartoli – Son Qual nave – Riccardo Broschi.

Cecilia Bartoli – Rataplan – Maria Malibran.

(Còn tiếp).

Xmas with Price(less) voice :P

Download album: Christmas with Leontyne Price

Leontyne Price (Soprano)

Herbert von Karajan (Conductor)

Wiener Philharmoniker Choir and Orchestra.

Recorded in June 1961

I’m not a Christian , even not really interested in Xmas music, but 2me, that’s the best classical Xmas album, especially for 2nite. This album was recorded in early 60s, capturing one of the most beautiful Black voice in prime, with Karajan and Wiener Philharmoniker Orch.

Merry Xmas!

Mai

HERMANN PREY (1928-1998)

Download: Richard Strauss – Morgen – op.27, No.04

Hermann Prey (baritone)

Wolfgang Sawallisch (piano)

Recorded on 1972.

——
Morgen!

Und morgen wird die Sonne wieder scheinen
und auf dem Wege, den ich gehen werde,
wird uns, die Glücklichen sie wieder einen
inmitten dieser sonnenatmenden Erde…
und zu dem Strand, dem weiten, wogenblauen,
werden wir still und langsam niedersteigen,
st-umm werden wir uns in die Augen schauen,
u-nd auf uns sinkt des Glückes stummes.
John Henry Mackay (1864-1933).
—————

Mai!

Mặt trời vẫn sáng rọi, ngày Mai,
Anh lại được hoà vào em làm một,
Trên con đường của những kẻ sung sướng cùng tột.
Nơi mặt đất hơi thở nắng ngập tràn.
Nơi bờ biển mênh mông, sóng vỗ mơ màng
Mình sẽ ngả lưng xuống…
… khẽ khàng,
… chầm chậm.
Sẽ im lặng…
… nhìn vào mắt nhau
… thật lâu
Sẽ chìm sâu
… trong hạnh phúc nhiệm mầu
… tĩnh lặng..

(From Figaro Di HaNoi to Nhùn Mai)