Rigoletto – quartet: “Bella figlia dell’amore”

12222.jpg

Những bản hợp ca là một điểm khác biệt khá độc đáo, xét từ góc độ sân khấu giữa opera và kịch nói. Khi một bản hợp ca cất lên, các nhân vật có khả năng thể hiện tâm trạng, suy nghĩ, cảm xúc cá nhân tại cùng một thời điểm. Đây là điều rất khó xảy ra với kịch nói. Chính Victor Hugo đã phát hiện ra điểm lý thú này và khen ngợi hết mực tài năng của Verdi ngay sau khi xem xong vở Rigoletto (kịch bản dựa trên chính vở kịch “Le roi s’amuse” – “Trò tiêu khiển của nhà vua” của Hugo).

Có lẽ Hugo đã nói về bản quartet (hợp ca 4 người) “Bella figlia dell’amore”, một trong những quartet nổi tiếng nhất trong opera. Bối cảnh như sau: Gã Công tước sở khanh buông lời ong bướm ngay khi gặp ả gái giang hồ Maddalena gợi tình, nóng bỏng. Maddalena tỏ ra là một cô nàng từng trải, nửa như hờ hững, bông đùa, nửa như mời gọi, lả lơi. Ở một góc khuất, hai cha con Rigoletto trân trối nhìn cảnh vẽ vãn vờn đuổi lố bịch này. Gilda trong trắng ngây thơ hồi tưởng lại những lời tình đường mật y chang mà gã Công tước đã tán tính cô trước kia, trong lòng dâng lên bao nỗi niềm cay đắng, bẽ bàng. Lão hề gù Rigoletto vừa dịu dàng vỗ về an ủi con gái vừa cố gắng kìm nén lòng căm hận và khát khao muốn tên đểu cáng phải bị trả giá xứng đáng… Một quartet ngắn rất xuất sắc và đầy kịch tính.

Maddalena là một nhân vật mezzo phản diện điển hình (sexy, ma mãnh, thủ đoạn) khá thú vị, nhưng rất tiếc, Verdi lại không tập trung khắc họa đậm nét và dành cho nhật vật này những aria quan trọng. Phần âm nhạc ấn tượng nhất cho Maddalena chính là trong quartet “Bella figlia dell’amore”, khi những tiếng cười khanh khách mỉa mai của ả như quấn quít với bản serenade của gã Công tước đàng điếm.

“Trong số những nhà soạn nhạc, kể cả trước đây hay bây giờ, tôi là người ít được học hành nhất. Ý tôi ở đây là ít được học hành một cách bài bản, chứ tôi không nói về kiến thức âm nhạc.” Verdi đã thú nhận một cách đấy tự tin như vậy về bản thân mình. Thực tế, Verdi đã học hỏi rất nhiều từ những nhà soạn nhạc trước mình như Bellini, Rossini và đặc biệt là Donizetti – những người đã thiết lập nên trường phái Opera Belcanto lừng danh đầu thế kỉ XIX.

Điểm khác biệt lớn nhất giữa những tác phẩm thời kì đầu và thời kì sau này đó là sự gắn kết giữa tính kịch sân khấu, tính cách, cảm xúc nhân vật với âm nhạc đã trở nên cực kì khăng khít, thuần thục. Đến những tác phẩm thời kì cuối, ông đã gần như dứt ra khỏi sự ảnh hưởng của Bel canto và tạo cho mình 1 phong cách độc lập hoàn toàn.

Rigoletto không chỉ nằm trong số những kiệt tác bất hủ của Verdi mà nó có thể coi là cột mốc ranh giới mở ra thời kỳ sáng tác thứ 2 của nhà soạn nhạc opera vĩ đại người Ý – thời kỳ mà ông đã tự tìm ra phong cách riêng, con đường riêng cho mình. Phần thể hiện “Bella figlia dell’amore” dưới đây trong một production “đội hình toàn sao” năm 2006 với sự tham gia của giọng coloratura soprano tài năng người Rumania – Elena Moșuc, giọng tenor trẻ đang lên người Ba Lan – Piotr Beczała và đặc biệt là một trong những Rigoletto nổi bật nhất của thế hệ này, Leo Nucci.

Advertisements

Winterreise – Der Leiermann

Quasthoff-Thomas-11

Thomas Quasthoff (1959)

Schubert bắt đầu bắt tay vào sáng tác “Winterreise” – D911 (Hành trình mùa đông) từ năm 1827 và hoàn thành nó chỉ vài tháng trước khi ông qua đời vào tháng 11 năm 1828. Nửa sau của tập liên khúc phổ từ 24 bài thơ của Wilhelm Müller này, thậm chí chỉ được xuất bản sau khi Schubert đã ra đi. “Winterreise” được coi như một trong những tác phẩm đỉnh cao không gì so sánh trong gia tài Lied khổng lồ với hơn 600 ca khúc nghệ thuật của Schubert.

“Winterreise” không chỉ cho thấy tài năng của Schubert trong nghệ thuật sáng tác ca khúc, với những giai điệu đẹp, có sức khơi gợi cảm xúc mạnh mẽ, mà nó còn mở ra cánh cửa thế giới nội tâm bên trong chính Schubert, như lời quả quyết của chính ông “Chúng đã gây xúc động với tôi hơn bất cứ Lied nào mà tôi từng sáng tác.”.

Schubert đã bắt đầu viết “Winterreise” trong khoảng thời gian tương đối khó khăn với một tâm trạng đầy u ám. Trước biểu hiện không bình thường dễ nhận thấy, một người bạn thân của Schubert khi ấy tỏ ra rất lo lắng liền hỏi han xem ông có vấn đề gì muốn được chia sẻ không. Đáp lại, Schubert giới thiệu về tập liên khúc đang thai nghén của mình và úp mở rằng: “Anh sẽ sớm được nghe nó và sẽ hiểu ngay thôi…”

“Winterreise” kể về cuộc hành trình trong mùa đông của một cậu thanh niên trẻ tuổi. Anh từng gặp gỡ, yêu và có hẹn ước với một người con gái xinh đẹp trong những ngày tháng 5 mùa xuân ấm áp. Nhưng cô gái phụ bạc tình cảm của anh để cưới một người đàn ông giàu có. Chàng trai lặng lẽ ra đi trong tâm trạng buồn bã chán chường, cùng những chăn trở, suy tuy về tình yêu và người con gái anh đã từng yêu. Anh cứ lang thang vô định mãi trên con đường mùa đông lạnh lẽo…

Dưới đây là bài cuối cùng, No.24: “Der Leiermann” (Người chơi đàn quay), cũng là bản Lied yêu thích nhất của mình trong “Winterreise”, với phần thể hiện đầy ám ảnh của giọng bass-baritone người Đức tài năng – Thomas Quasthoff – một trong những ca sĩ thính phòng hàng đầu của thế hệ. Tuy không nằm trong số những người hát Schubert yêu thích nhất của mình, nhưng giọng hát đặc biệt của ông, lối thể hiện chuẩn mực, thâm sâu, chi tiết gợi nhớ đến “Master of Lied” – Fischer-Dieskau, nhưng vẫn lấp lánh những xúc cảm rất tinh tế – điều thiếu vắng ở ngay cả những vị tiền bối bậc thầy, luôn khiến mình nhìn thấy những vẻ đẹp mới từ những bản Lied quen thuộc.

Wagnerian soprano Astrid Varnay

22

Astrid Varnay (1918-2006)

“…Tôi muốn đưa ra một ví dụ về việc đặt cạnh nhau giữa 2 kiểu nhân vật nữ của Wagner: Elsa và Ortrud trong vở opera “Lohengrin”. Elsa cần phải được bảo vệ bởi ai đó và cô ấy không đủ tự chủ để có thể tự giải cứu chính mình. Nhân vật nữ đối đầu của cô ấy, Ortrud, thì ngược lại, tất cả đều nằm trong tầm tay của bà ta, bà ta sử dụng trí thông minh sắc sảo của mình để chiếm đoạt lợi thế. Có gì đó cực kỳ đàn ông trong sự sùng kính một lòng với niềm tin tôn giáo và cái tham vọng bá quyền của bà ấy, nhưng dĩ nhiên bà ấy cũng thừa sự gợi cảm rất đàn bà đủ để có thể mê hoặc dẫn dụ được một Telramund đứng đắn nghiêm nghị cùng chung mục đích với bà ta.

Quan điểm cá nhân của tôi, khắc họa Ortrud là một phù thủy đơn thuần hoàn toàn không đúng. Cách thể hiện đấy không thể đi sâu vào bản chất cốt lõi bên trong tính cách nhân vật. Thực chất Ortrud sùng kính với đức tin của bà ấy cũng giống như Lohengrin với tôn giáo của anh ta, và ma thuật mà bà ta thực hiện là một phần thuộc về đức tin tôn giáo của bà ấy. Ortrud là người sót lại cuối cùng của một triều đại vương quyền đã từng kiểm soát vùng đất đó. Bà ta quyết giành lại được quyền lực cai trị vốn thuộc về bà ta và xác lập lại tín ngưỡng đã từng bị vùi lấp hàng thế kỷ tại nơi này. Tôi cảm nhận bà ta là một người đàn bà độc lập và hãnh tiến, nhưng lại là người mà, trong giai đoạn đầu Trung Cổ, vốn được trao rất ít quyền lực, cũng không được phép đưa ra yêu sách hay được hành động giống như một đấu sĩ. Đó là lý do vì sao bà ấy cần một người đàn ông mạnh mẽ – người mà bà ta có thể dùng trí thông minh tuyệt đỉnh và sự quyến rũ chết người của mình để điều khiển theo cách bà ấy muốn, với hi vọng sau rốt là có thể thiết lập lại sự hưng thịnh tín ngưỡng truyền thống cũng như cái dòng dõi thế gia của bà ta. Tất cả những hành động của bà ấy đều có thể bao biện được trừ một việc: là âm mưu hủy diệt sự sống loài người. Đó cũng chính là nơi bà ta gieo cái mầm mống hủy diệt chính mình.

Đối với tôi, vở opera Lohengrin giải quyết cuộc đối đầu giữa hai loại tín ngưỡng: “Công giáo” (Lohengrin) với “Đa thần giáo” (Ortrud), và hai thuộc tính: “Lệ thuộc” (Elsa) và “Độc lập” (cũng lại Ortrud). Hai mối xung đột ấy phải được thể hiện một cách chân thực…”
– Soprano Astrid Varnay.

——————————————————–

Lohengrin là một trong những thành công rõ nét đầu tiên của Wagner. Trong đêm công diễn lần đầu của vở opera này tại Ý, Verdi đã tỏ ra cực kỳ ấn tượng và ông lập tức yêu cầu ngay một bản tổng phổ của tác phẩm để đem về nghiên cứu.

Cốt truyện của Lohengrin dựa trên một tích truyện khá phổ biến trong văn hóa Đức, kể về chàng hiệp sỹ Lohengrin.
————-
Antwep, thời kì trung cổ, cả công quốc đang rất rối ren khi Công tước trẻ tuổi Gottfried von Brabant, người kế tự của dòng họ Brabant đột nhiên mất tích, trong khi quân Hungary chuẩn bị động binh xâm lược. Bá tước Telramund vội tung ra lời đồn quận chúa Elsa đã ám hại người em trai của mình hòng độc chiếm quyền cai quản công quốc. Khi mọi con mắt nghi ngờ đang dổ dồn vào cô gái tội nghiệp thì một chàng hiệp sĩ bí ẩn bất ngờ xuất hiện trên chiếc thuyền được kéo bới một con thiên nga. Chàng hiệp sỹ ngỏ lời cầu hôn Elsa và muốn giúp đỡ mọi người thoát khỏi tình trạng nguy kịch, nhưng chỉ với một điều kiện là không được phép hỏi đến danh tính của chàng. Elsa từng mơ thấy người anh hùng đên giải cứu mình và không ngờ giấc mơ ấy đã thành hiện thực, nàng đồng ý không chút ngại ngần.

Nhận thấy âm mưu hãm hại Elsa để tiếm quyền cai quản công quốc thất bại, Telramund vô cùng tức giận. Ortrud, vợ hắn, vốn là một phù thủy dị giáo đầy quỷ quyệt, liền tìm cách giúp đỡ chồng, mụ kích động Elsa phải tìm hiểu nguồn gốc người chồng hiệp sĩ bí ẩn bằng được. Elsa thơ ngây, trót nghe lời xúi bẩy của Ortrud, nằng nặc đòi chồng phải nói ra thân phận của mình. Chàng hiệp sĩ dù hết sức cố gắng cảnh báo vợ nhưng không thể ngăn nổi sự tò mò cố chấp của nàng.

Buồn phiền vì vợ không tôn trọng lời hứa, chàng Hiệp sĩ quyết định gọi mọi người tới và bộc lộ danh tính thực sự. Chàng là hiệp sỹ Chén Thánh Lohengrin, con của Parsifal, xuống trần để giúp đỡ Elsa và công quốc, nhưng chàng sẽ buộc phải trở về nhà nếu tự tiết lộ thân phận. Nói rồi chàng từ biệt Elsa và mọi người, quay lại chiếc thuyền thiên nga kéo. Elsa chưa kịp hết đau đớn vì sai lầm trót gây ra, thì Ortrud bất ngờ đến bên và nói ra sự thật, rằng chính con thiên nga kéo xe kia là Công tước Gottfried do mụ phù phép hóa thành và giờ thì không ai còn có thể giúp nàng nữa…
————
“Fahr heim! Fahr heim, du stolzer Helde” – Những lời nguyền rủa cay độc và đầy hả hê của Ortrud trước sự bàng hoàng kinh hãi của Elsa và mọi người, là một trong những aria đầy thách thức đối với tất cả những ca sĩ Wagnerian kịch tính. Aria sở hữu những note cao fortissimo dồn dập xuyên cắt dàn nhạc cuồng bạo, đầy kích động như một cơn bão tố điên loạn, chính bởi vậy mà mặc dù chỉ là vai thứ, nhưng một ca sĩ thể hiện Ortrud xuất sắc hoàn toàn có thể cướp đi hào quang của vai nữ chính Elsa và điều đấy đã xảy ra không ít lần.

Nguyên bản Ortrud được viết cho một giọng mezzo kịch tính có âm vực cao (tiền thân của loại giọng Wagnerian soprano sau này) và một trong những ca sĩ đầu tiên thành công với Ortrud chính là Johanna Wagner, cháu ruột của Wagner (bà cũng đồng thời cũng là người được Wagner ngắm đến cho Brunhilde – một trong những vai Wagnerian quan trọng nhất). Với đòi hỏi khắc nghiệt của tổng phổ, Ortrud thậm chí có thể coi là những Turandot hay Abigaille dành cho giọng Mezzo-soprano. Trong thực tế, cũng không nhiều mezzo nhận vai này mà nó thường được giao cho những giọng soprano kịch tính kiểu Wagner. Và một trong những Ortrud ấn tượng nhất trong lịch sử ghi âm chính là Astrid Varnay.

Với rất nhiều người Birgit Nilsson là Wagnerian soprano xuất sắc nhất nửa sau thế kỉ XX, nhưng với những người thực sự yêu thích Wagner thì Birgit Nilsson chưa chắc đã vượt qua được “người cùng thời”, Astrid Varnay. Birgit Nilsson sở hữu một giọng hát quá khác biệt, vô tiền khoáng hậu với những note Đô cao sáng rực, bùng nổ, hùng vĩ và khả năng cắt xuyên ấn tượng – điều đó khiến cho đến tận bây giờ, khó ai có thể vượt qua Nilsson trong vai nữ chiến thần Brunhilde (với cá nhân Ad). Nhưng Varnay thì khác, Varnay chạm sâu vào nhân vật hơn, bám sát kịch tính của Wagner hơn, và kích cỡ khổng lồ của giọng hát cũng không hề kém cạnh (Varnay có lẽ chỉ chịu thua Nilsson ở các note cao mà thôi).

Astrid Varnay là hiện thân toàn vẹn nhất của một giọng Wagnerian soprano thuần chất điển hình, là người kế vị thực sự của Kirsten Flagstad. Chính Kirsten Flagstad sau khi chứng kiến tận mắt khả năng hát và diễn xuất của Varnay tại Met đã tiến cử giọng soprano trẻ thay cho mình tới W.Wagner (cháu nội Wagner, người trực tiếp điều hành Bayreuth Festspielhaus – nhà hát do Wagner xây dựng đồng thời cũng là thánh đường của mọi ca sĩ Wagnerian). Tất nhiên Nilsson với giọng hát dị biệt luôn là một cơn gió mới gây sốc tại Bayreuth, nhưng Varnay (cùng với M.Mödl) mới là những nữ hoàng thực sự của nhà hát danh tiếng này. W. Wagner từng phải thốt lên rằng :”Sao lại phải cần thêm đạo cụ cây cối trên sân khấu khi chúng ta đã có Astrid Varnay ở đây rồi”,

Dù là đối thủ sở hữu chung nhiều kịch mục, nhưng Nilsson và Varnay lại luôn là những người bạn đồng nghiệp thân thiết với nhau (Nilsson và Varnay đều là người Thụy Điển và được sinh ra tại đây, dù cha mẹ Varnay là người gốc Hungary). Hai giọng Wagnerian soprano kỳ cựu rất mực nể trọng nhau và không ít lần dành cho nhau những lời nhận xét ưu ái. Nếu như Varnay thừa nhận Turandot của Nilsson là ưu tú nhất trong thời của mình, thì Nilsson sau khi hát vai chính Elsa trong Lohengrin với Varnay (Ortrud), đã chủ động loại bỏ Ortrud trong kịch mục biểu diễn vì cho rằng không thể nào vượt qua được Varnay. Bản thân Varnay cũng tự tin cho rằng Ortrud (cùng Elektra) thực sự là vai diễn để đời của bà.

Có đến gần chục bản thu âm Varnay hát Ortrud trên thị trường, nhưng bản thu âm nào cũng có thể thấy Varnay cũng luôn giữ được chất lửa kịch tính và nguồn năng lượng dồi dào vô tận của mình. Dưới đây là bản live năm 1962 tại Bayreuth Festspielhaus trong thời kỳ cuối sự nghiệp Wagnerian của Varnay (từ sau thập niên 1960, Varnay dần chuyển dần sang các kịch mục cho mezzo-soprano vì một số bất ổn ở note cao), nhưng có thể thấy sức căng mãnh liệt của giọng hát hầu như không có dấu hiệu suy giảm.

 

My top 20 favourite Mezzo-sopranos & Contraltos – Part 3 (end B-))

mezzo3

  Thế là cuối cùng thì tôi cũng hoàn thành nốt được cái danh sách này (dù đáng lẽ là nó đã bị bỏ lửng như rất nhiều bài viết “to be continued” trc đây của tôi). Khi bắt tay vào việc lựa chon các bản thu âm điển hình cho các nghệ sỹ, tôi như lạc vào mê cung không thể tìm thấy lối ra, đôi khi chán chẳng muốn tiếp tục nữa … Tôi xin kể 1 chuyện dưới đây:

  Khi nghe lại 1 vài bản ghi âm của Grace Bumbry, tôi thực sự bị ấn tượng mạnh bởi aria của Orfeo: “Che faro senza Euridice”. Một giọng hát đẹp rực rỡ  khiến tôi bị cuốn hút dù trước đây chưa bao giờ tôi thấy quá thú vị với aria nổi tiếng này. Gần như ngay lập tức, tôi đã chọn nó. Cùng lúc ấy, tôi cũng muốn đọc lại libretto, tìm nghe lại những bản ghi âm “Che faro…” khác như của Callas, của Ferrier, của Baker, của Stignani, của Verrett … để kiểm nghiệm. Oái oăm thay, tất cả tôi đều thấy … hay hơn Bumbry! Là sao? Tôi không thể hiểu được. Tôi đã nghe những bản thu âm kia trước rồi cơ mờ, sao bây giờ sau khi nghe Bumbry hát, tôi mới thấy họ hát hay? Phiên bản của Bumbry tempo khá nhanh và thậm chí là hát hơi vô cảm, hơi mechanical dù âm sắc bà tuyệt đẹp. Đây là cảm xúc của một người chồng khi “tận mắt chứng kiến người vợ yêu thương của mình qua đời  và vĩnh viễn khổng thể trở lại thế gian” sao? Không, đấy rõ ràng không phải là điều Gluck muốn, không phải là thứ âm nhạc mà Gluck muốn. Gluck viết “Orfeo ed Euridice” không hề dành cho những giọng hát đẹp hay những ca sĩ chỉ biết phô diễn kĩ thuật hoa mỹ phù phiếm thời ấy, mà đó là thứ âm nhạc gắn liền với những xúc cảm mạnh mẽ từ kịch tính sân khấu và lời thoại – 1 sự cách tân táo bạo đã ảnh hưởng đến rất lớn tới nhiều nhà soạn nhạc lỗi lạc sau này mà điển hình là Wagner.  Và tôi đã loại bản ghi âm này đi, với 1 chút lấn cấn…..

   Tôi nhớ 1 cựu moderator trước đây trong  nhạc cổ điển của ttvnol và cũng là 1 người bạn mà tôi vô cùng quý mến từng kể rằng anh không hề cảm thấy dễ dàng khi nhận xét những nghệ sỹ đỉnh cao ở cùng 1 tác phẩm, ai hay hơn ai, ai kém hơn ai như nhiều người khác. Không phải là không đủ sự tinh tế hay sự lắng nghe kỹ lưỡng, nhưng thực sự khó có thể đủ tự tin để có thể đưa ra 1 lời đánh giá (dù là ở mức độ amateur nhất) tài năng của các tên tuổi lớn khi chúng ta không phải những professional critics, musicologists,… Cùng lắm là “thích thú phần biểu diễn này hơn”, “âm nhạc này gần với cảm nhận của mình hơn”,… như thế cũng đã là “tỏ vẻ nguy hiểm” lắm rồi.  Một câu chuyện khác tôi còn nhớ mang máng. ở diễn đàn nhaccodien.info, ngày tôi còn làm Mod thanh nhạc cách đây vài năm, có 1 topic được đặt ra: “Giữa Mozart và Beethoven, ai thiên tài hơn?”, rất nhiều bình luận đưa ra và đều có những quan điểm mạnh mẽ bảo vệ ý kiến của mình, nhưng tôi chỉ nhớ duy nhất ý kiến của Mod Tocky (cũng là 1 pianist chuyên nghiệp): “Ôi – sao lại đi so sánh thiên tài…”.

  Thực ra tôi không được như anh bạn tôi, tôi vốn là người cảm tính và chả ngại ngần đưa ra những ý  kiến  mang tính  “chém gió” (dù có thể 1 thời gian ngắn sau, tôi đã thấy nó cực  kỳ ngu ngốc). Tôi vốn đã lựa chọn những bản thu âm xuất sắc khác để thay thế, (“El amor Brujo” – Falla, aria Jeanne D’Arc: “Oui, Dieu le veut – Adieu, forets”  – Tchaikovsky,…), nhưng đến lúc bắt tay vào viết entry này, tôi đã quay về lựa chọn ban đầu “Che faro senza Euridice” (!) . Tôi nghĩ rằng, dù không hẳn nó là phần thể hiện ấn tượng nhất hay điển hình nhất của Bumbry, nhưng thứ  ÂM NHẠC mà từ đó Bumbry mang lại dã khiến tôi thấy thích thú với aria này, khiến tôi muốn tìm hiểu nó sâu sắc hơn. Tôi nghĩ tôi phải học cách đối diện “chân thực với cảm xúc” của chính bản thân mình như Ebe Stignani – 1 cái tên tôi không ngại ngần xếp vào danh sách này dù tôi mới chỉ nghe rất ít…

  Tôi kể ví dụ này chỉ vì muốn nói rằng, việc thực hiện cái danh sách này không hề đơn giản với tôi, dù nó hoàn toàn chỉ mang ý nghĩa cá nhân. Tôi nghe vài ba bản thu âm của 1 vài cái tên quen thuộc trong cái tủ đĩa ít ỏi của tôi, và thế là tôi đưa ra những lời phán như thánh sống =)). Cái danh sách này có đáng để tham khảo, đáng tin cậy khi bạn muốn tìm hiểu những giọng mezzo trong thanh nhạc cổ điển không? Không, chắc chắn là không, chẳng có 1 thứ đáng tin nào trong cái mớ ngớ ngẩn này cả. Nhưng nếu bạn chia sẽ những ý kiến, cảm nhận của bạn với những sự lựa chọn của tôi, có thể chúng ta sẽ có những trao đổi thú vị .

Part 1: No.01 -> N0.06.

Part 2: No.07 -> No.12.

c1-anne-sofie-von-otter

13. Anne sofie von Otter (1955~) – Swedish mezzo-soprano.

  Người đầu tiên bắt đầu part III này , tôi còn không nhớ là tên đầy đủ được viết như thế nào. Tôi thường chỉ nhớ đến bà ngắn gọn là von Otter mà thôi. Thực ra vị khi tôi dự định thực hiện danh sách này von Otter vốn ở vị trí thấp hơn nhiều. Nhưng ngay sau khi nghe bản lied vô cùng đáng yêu của Mozart : “Komm liebe Zither, komm”, tôi như có một nguồn năng lượng mới để tiếp tục công việc dở dang này.

  Số lượng album von Otter ghi âm chỉ tính riêng ở hãng DG đã gấp nhiều lần số đĩa nhạc của bà mà tôi có. Càng nghe tôi càng cảm thấy thiếu tự tin khi giới thiệu về bà – một trong những mezzo-soprano bản lĩnh nhất hiện nay. Von Otter là người rất thông minh, điều đó không chỉ thể hiện trong cách xử lý tác phẩm vô cùng tinh tế và sâu sắc, mà cả ở cách bà lựa chọn các repertoires cũng như con đường phát triển sự nghiệp của mình. Von Otter không phải là kiểu nghệ sỹ bản năng, bốc đồng, bất ổn và lúc nào cũng tràn đầy năng lượng như những prima donna khác. Tất cả các bản thu âm dù là studio hay live đều cho thấy 1 Von Otter rất tỉnh táo, sắc sảo và có sự thấu hiểu thứ âm nhạc phát ra từ chính cổ họng mình. Có vẻ như những cảm xúc bà tạo ra hoàn toàn từ âm nhạc, không phải từ bản thân của bà (tôi có võ đoán không nhỉ). Tôi không thấy bà quá say đắm, mê muội trong âm nhạc, nhưng thứ âm nhạc bà mang lại lại vô cùng cuốn hút. Carmen của von Otter hơi thiếu nồng nhiệt, thậm chí lạnh hơn cả Elina Granca hay Magdalena Kozena (những người hát Carmen rất “tỉnh” và có type giọng, phong cách gần với von Otter). Nếu có được 1 hỗn hợp giữa Christa Ludwig và Janet Baker, ta sẽ có 1 hình dung gần với von Otter nhất. Von Otter hát Baroque, đặc biệt là Bach, lạnh vừa đủ, tỉnh táo vừa đủ và gần như là không có tì vết. Ở mảng ca khúc thính phòng, trước và sau thế hệ của bà, rất hiếm người có thể chạm tới những thàn tựu bà đã gâ dựng.

  Sự yêu thích của tôi với von Otter đến 1 cách từ từ, dần dần chứ không là 1 sự lôi cuốn tức thời. Thậm chí nó trồi sụt theo mỗi album mà tôi nghe. Giống Janet Baker, von Otter rất hiếm khi động đến những vai diễn opera thời kỳ lãng mạn. Thậm chí bà còn ghẻ lạnh Bel canto dù kĩ thuật coloratura trong “Nacqui all’affanno e al pianto” của bà khiến tôi bất ngờ. Ngay kể cả thế mạnh âm nhạc Baroque, von Otter cũng không hề ôm đồm những tác phẩm đòi hỏi phô diễn kĩ thuật chạy note quá phức tạp. Với artsongs, lieder, melodies,… bà né tránh hoàn toàn cách thể hiện uỷ mị, kịch tính như 1 số ca sĩ cùng thế hệ. Bắt đầu từ album “La bonne chanson” của von Otter, tôi mới thực sự quan tâm đến Melodies. Von Otter hát tỉnh táo, nhưng hiếm khi tạo cảm giác khô cứng, lạnh lẽo. Bà là người kế vị xứng đáng cho E.Schwarzkopf và D.Fisher-dieskau. Âm sắc giọng hát không phải đẹp một cách lộng lẫy và đặc biệt, tuy vậy nó rất vừa tai, điều đó khiến ngay cả những tác phẩm có giai điệu khó nắm bắt cũng không quá khó nghe.

  Von Otter không bao giờ đóng khung mình, bà hát từ dân ca khắp các nước, rồi jazz, pop thậm chí cả những ca khúc của … Abba hay những nhà soạn nhạc ít tên tuổi. Rất nhiều người lên án những dự án cross-over của von Otter, nhưng tất nhiên, không 1 ai nghi nghờ con người nghệ sỹ của bà. Von Otter không hề bước chân sang pop, jazz để kiếm thêm khán giả, để nổi tiếng hơn, để bán được nhiều đĩa hơn và càng không ôm mộng trở thành nghệ sỹ cross-over. Bà cũng không dùng cách hát cổ điển để trình diễn chúng. Bà hát vì bà thích, bả cảm nhận chúng, như bà nói, giống 1 “thiên thần ngang qua phòng tôi” (tên 1 ca khúc của Abba).

  Tôi thực sự bối rối khi lựa chọn 1 bản thu âm của von Otter, có rất nhiều tuyệt phẩm trong sự nghiệp ghi âm khổng lồ của bà, thế nhưng số tác phẩm khiến tôi thực sự rung động không nhiều. Một trong số ít đó là album Những ca khúc nghệ thuật của Grieg – “Grieg songs”. Tôi không biết diễn tả lại như thế nào. Tôi thực sự bị choáng ngợp, ngay từ ca khúc đầu tiên. Một album quá đẹp.

Download:

– Anne Sofie von Otter – Komm, liebe Zither, K.351 – Wolfgang Amadeus Mozart.

– Anne Sofie von Otter – Killingdans, Op.67, No.06 – Edvard Grieg.

c2-ebe-stignani

14. Ebe Stignani (1903-1974) – Italian mezzo-soprano.

  Phải thú thực rằng, tôi không biết nhiều về Stignani, và cũng không nghe quá nhiều bản ghi âm của bà. 2 bản ghi âm studio “Aida” (với Tebaldi), 2 bản ghi âm “Norma” (với Callas) đều được thực hiện ở nửa cuối sự nghiệp của Stignani khi giọng hát đã qua sườn dốc. Nhưng một giọng hát có vẻ đẹp khiến Simionato phải “phát điên lên” và vô cùng ngưỡng mộ thì hẳn phải là 1 cái gì đấy chứ. Những bản thu âm thực hiện vào thời kì 30s-40s, khi Stignani ở thời kì sung sức nhất cho thấy 1 giọng hát mezzo Ý thuần chất đẹp tự nhiên hoàn hảo. Tôi k0 dám khẳng định là tôi nghe nhiều, nhưng trong số những mezzo Ý tôi từng nghe, Stignani là mezzo có âm sắc đẹp đẽ nhất. Một giọng hát như thể Tebaldi có giọng mezzo, ấm áp, tròn trịa, đầy đặn, bỏ xa những giọng mezzo Ý đàn em thế hệ sau như Simionato, Cossotto. Cách bà hát Verdi là một khuôn mẫu đối với những Verdian mezzo sau này. Đôi khi đặt cạnh những bản ghi âm xuất sắc của Obraztsova (Verdian mezzo yêu thích nhất của tôi), tôi đã thầm tự hỏi rằng: “dường như Obraztsova có hơi quá…”.

  Ebe Stignani chính là mezzo đầu tiên thực sự nghiên cứu 1 cách sâu sắc opera Belcanto và làm sống lại nó. Trước Stignani, phần lớn các Belcanto repertoires cho mezzo chỉ quanh quẩn ở “Il barbiere di Siviglia”, “L’Italiana in Algieria”, “La Cenerentola”. Nên nhớ bản ghi âm studio “Norma” đầu tiên được thực hiện có sự tham gia của Ebe Stignani trong vai thứ Adalgisa (Gina Cigna hát Norma). Ebe Stignani không phải người có kĩ thuật coloratura xuất sắc, nhưng bà biến opera belcanto không chỉ còn là những màn khoe khoang kĩ thuật chạy note thuần tuý. Aria “O mio Ferrando”, dù thiếu vắng cabaletta nổ tưng bừng phía sau vẫn khiến chúng ta bất ngờ với vẻ đẹp của nghệ thuật hát.

Download:

– Ebe Stignani – Rataplan, rataplan – La forza del destino – Giuseppe Verdi.

– Ebe Stignani – O mio Fernando – La Favorita – Gaetano Donizetti.

c3-grace-bumbry

15. Grace Bumbry (1937~) – US. American mezzo-soprano.

  Từ trước khi Leontyne Price trở thành Prima donna của Met, ngay từ đầu thập niên 60s, Grace Bumbry đã gây chấn động những thánh địa opera Châu Âu như Bayreuth, Paris opera, Royal Convent Garden và tất nhiên là cả La Scala. Một sự khởi đầu đáng mơ ước với bất cứ ca sĩ opera nào chứ không chỉ đối với 1 nghệ sỹ da màu hoạt động ở thời kì chủ nghĩa phân biệt chủng tộc vẫn còn tồn tại. Nhưng, tôi không biết lý do làm sao từ thập niên 70 đổ đi, có rất hiếm những bản ghi âm studio xuất sắc của Bumbry, nó thực sự là dấu hỏi với tôi, những bản ghi âm live cho thấy giọng hát Brumbry vẫn k0 sút kém so với thời trẻ. Bumbry không hề bị xuống phong độ như Verrett, giọng hát rất khoẻ, mạnh, giàu cá tính với âm vực trải rộng từ alto đến soprano và dường như rất ít thay đổi chất lượng trong suốt sự nghiệp. Cá nhân tôi cho rằng, vấn đề của Bumbry cũng giống như Verret thôi, bà không phải là một người thông minh khi lựa chọn các vai diễn để phát triển sự nghiệp. Thay vì phong phú kịch mục trong giọng hát mezzo của mình, chỉ vì muốn được đứng ở vị trí Prima donna, Grace Bumbry nhận rất nhiều vai soprano, mà trong đó, với tôi, chỉ có Le Cid là thực sự đem lại chút ít ấn tượng đáng kể. Thành công quá sớm khi mới ngoài 20 khiến cho Grace Bumbry bị ngợp, bà không thể dừng lại, bà luôn phải đi lên. Có lẽ Grace Bumbry không hề có sự chuẩn bị trước cho sự nổi tiếng , bà đơn giản chỉ là 1 cô gái nhút nhát có giọng hát thiên phú, yêu ca hát, muốn được hát. Bà đã tỏ ra lung túng khi đón nhận sự nổi tiếng và thậm chí đã có những lựa chọn sai lầm như chính bà thú nhận trong rất nhiều bài phỏng vấn sau này. Dù những sự lựa chọn ấy không gây tác hại đáng kể cho giọng hát khoẻ khoắn bẩm sinh của bà, nhưng nó phần nào làm ảnh hưởng không nhỏ đến vị trí mà đáng lẽ bà đã hoàn toàn xứng được nhận – mezzo-soprano xuất sắc nhất của thập niên 70-80.

  Ở những bản thu âm đầu tiên vào cuối thập niên 50, giọng hát alto ngọt như mật và đặc quánh của bà khiến tôi sửng sốt, dù chỉ là những trích đoạn đơn giản trong oratorio của Handel. “El Amor Brujo” của bà là bản ghi âm xuất sắc nhất ở tác phẩm này với tôi. Nhưng Norma lại thực sự là thảm hoạ. Tôi không quen cách thể hiện Carmen của Bumbry, hơi lý trí và thiếu sự mềm mại. Verdi cũng vậy, dù bà luôn dư năng lượng và không có vẻ gì đuối sức với những note cao ác liệt.

  Tuy vậy Lieder là 1 phát hiện khá thú vị ở bà. Tôi không so sánh với Janet Baker hay Christa Ludwig, nhưng Bumbry hát Schubert và Brahms không hề ở đẳng cấp thấp hơn. Khi nghe 1 recital album của Grace Bumbry, cảm giác như bạn đang trải qua 1 giấc mơ đẹp, nhưng khi track nhạc cuối cùng dừng lại, giấc mơ ấy cũng tan biến và không còn đọng lại gì nữa. Rất khó duy trì cảm xúc thưởng thức sau khi nghe những album của Bumbry, nhưng một khi đã ấn nút play, không bao giờ bạn muốn nó bị dừng lại đột ngột.

  Một giọng hát đẹp có thể cũng đủ với tôi. Nhưng cũng có thể không.

Download:

– Grace Bumbry – Che faro senza Euridice – Orfeo ed Euridice – Christoph Willibald Gluck.

– Grace Bumbry – Litanei auf das Fest Aller Seelen, D.343 – Franz Schubert.

c4-brigitte-fassbaender

16. Brigitte Fassbaender (1939~) – German/Austrian mezzo-soprano.

  Tôi không biết vì sao với cùng 1 kiểu hát, tôi luôn thấy Agnes Baltsa gây khó chịu còn Brigitte Fassbaender thì mang lại sự bùng nổ, cá tính chấp nhận được. Tôi sẵn sàng ok 1 chút gai góc và coi nó như 1 điểm độc đáo của B.Fassbaender, chẳng hạn trong “O don fatale” trong khi vẫn là kiểu hát ấy, tôi lại thấy nó là “sự gào thét”, làm quá ở A. Baltsa. Thực ra tôi không ghét Baltsa, tôi chỉ thấy mình k0 hợp với phong cách của bà. Mỗi nghệ sỹ đạt đến 1 thành tựu nhất định, đều có “nghệ thuật” của họ và nó tác động với mỗi đối tượng khán giả khác nhau, đòi hỏi 1 sự công bằng cho tình cảm là không công bằng, tôi nghĩ vậy. Nhưng người tôi nhắc đến ở đây là Fassbaender k0 phải Baltsa, tôi chỉ cố lý giải cho những ấn tượng của tôi về 2 giọng hát mà tôi ít nhiều thấy sự tương đồng.

   Cá nhân tôi thấy, Brigitte Fassbaender là giọng mezzo soprano có âm sắc độc đáo nhất trong những mezzo tôi từng nghe. Tất nhiên mỗi người trong chúng ta đều có một âm sắc riêng, nhưng cái màu âm khác lạ của Fassbaender đối với tôi dường như tách biệt hẳn so với những mezzo khác. Bà không chối bỏ lối nhả chữ hơi nặng nề kiểu Đức và biến nó làm dấu ấn độc đáo của mình, nhưng k phải vì thế mà người ta xếp bà vào dạng nghệ sỹ Đức hạng 2, được các producer cố gắng thêm vào trong 1 all-stars production opera/operetta Đức-Áo để làm tăng tính địa phương, đẹp đội hình. Brigitte Fassbaender là 1 nghệ sỹ ở đẳng cấp thế giới, điều này không cần phải chứng minh dù cách thể hiện của bà – con đường mà bà đi không trùng lặp với bất cứ nghệ sỹ nào.

  Sẽ rất hài hước, nếu bảo rằng giọng hát của bà đẹp theo lối chuẩn mực, nhưng nó rất giàu sắc thái và đa diện. Bà không cố tình mềm mại hoá giọng hát sắc cạnh của mình nhưng vẫn luôn đảm bảo tính trữ tình khi cần. Với những repertoires kịch tính, bà ít tính toán hơn Christa Ludwig, thậm chí cảm xúc mãnh liệt hơn nhưng vẫn kiểm soát chúng 1 cách hiệu quả. Tôi bị Fassbaender chinh phục hoàn toàn với Brangane  trong Tristan und Isolde.  Charlotte (Wether) của Fassbaender đau đớn, vùng vẫy trong thứ tình yêu bị cấm đoán nhưng vẫn đầy nữ tính, sự cam chịu. Fassbaeder khắc hoạ ấn tượng 1 Klytemnestra (Elektra) tội lỗi, độc ác và luôn chìm trong trạng thái sợ hãi, mất kiểm soát. Christa Ludwig vẫn là giọng mezzo Đức vĩ đại nhất, nhưng Brigitte Fassbaender là giọng mezzo nghe “Đức” nhất với cái tai của tôi. Với Operetta Đức/Áo, Fassbaender là số 1 trong thế hệ của bà. Chỉ có bà mới vừa thể hiện được chất hài hước trong giọng hát cũng như khả năng diễn xuất độc đáo, đáng yêu và duyên dáng ở mỗi vai diễn. Ở Lieder, Không như kiểu thể hiện mẫu mực và sâu sắc như F-D, Schwarzkopf hay Baker,  bà thể hiện với 1 phong cách khác lạ hơn, với cách nhả chữ và nhấn nhá đầy cảm xúc mang nhiều dấu ấn cá nhân, gần với những gì mà tôi thấy ở Hermann Prey. Có thể có người thích hoặc không thích cách thể hiện Schubert của bà, nhưng album Richard Strauss & Liszt lieder của bà là 1 đỉnh cao ít người đạt tới.

  Không phải tất cả những gì Fassbaender thể hiện tôi đều yêu thích, nhưng khi cần tìm 1 cảm xúc mới ở 1 tác phẩm quen thuộc cho mezzo hoặc 1 bản lieder, Fassbaender có lẽ chính là người đầu tiên tôi nghĩ tới.

Download:

– Brigitte Fassbaender – Zueignung, Op.10, No.01 – Richard Strauss.

– Brigitte Fassbaender – Einsam wachend in der Nacht – Tristan und Isolde – Richard Wagner.

c5-nathalie-stutzmann

17. Nathalie Stutzmann (1965~) – French contralto.

  Có không ít ca sĩ nổi tiếng có thể chỉ huy, như P.Domingo, D.Fischer-Dieskau, S.Milnes,… tuy vậy số người vừa hát vừa cầm đũa như Stutzmann có lẽ là rất hiếm. Nhưng kể cả khi bỏ qua tài năng ấy, với hàng tá những giải thưởng danh giá, không ai nghi ngờ Stutzmann là 1 trong những contralto xuất sắc nhất của thế hệ chúng ta.

  Stutzmann không có giọng hát lồng lộng với những note thấp chắc nịch, thăm thẳm như Ewa Podles (cũng là 1 contralto tài năng mà tôi sẽ nhắc đến sau đây),  tuy vậy giọng hát ấm áp và cách xử lý âm nhạc thông minh của bà khiến những ca khúc nghệ thuật nhỏ xinh hay những aria đơn điệu, lê thê thời kỳ Baroque – những repertoires chủ yếu của, bà trở nên phong phú, nhiều màu sắc và giàu cảm xúc. Lieder của Schumann đặc biệt là “Die Frauen Liebe und Leben” không có nhiều người thể hiện xuất sắc hơn, ngay kể cả những nghệ sỹ của thời kì hoàng kim thập niên 50-60s. Bản thu âm “From Jewish Folk Poetry” của Shostakovich cùng Luba Orgonasova và Philip Langridge là bản thu âm studio tôi thích nhất của chùm tác phẩm này. Ngay cả những tác phẩm quen thuộc đến nhàm tai của Handel như “Ombra mai fu”, hay “Cara Posa”, Nathalie Stutzmann cũng mang lại những nét độc đáo và hấp dẫn rất riêng từ giọng hát contralto trầm ấm của mình.

  Nathalie Stutzmann có discography đáng nể, ngay từ cuối thập niên 80s, khi mới hơn 20t bà đã có nhiều bản ghi âm ấn tượng với hãng ghi âm danh tiếng RCA, tuy vậy không ít trong số đó tôi mới chỉ nghe một đôi lần và chưa muốn nghe lại, nó chủ yếu là do những repertoires bà lựa chọn chưa thực sự hấp dẫn tôi chứ không hẳn do tài năng của bà. Thực ra tôi vốn đọc rất ít về Stutzmann, cho đến gần đây tôi vẫn k biết rằng Stutzmann là người Pháp (vì cái tên có mùi rất Đức của bà). Dù sao thì Stutzmann vẫn là 1 trong số ít những nghệ sỹ đương đại mà tôi vẫn luôn theo dõi.

  Giờ đây dù đã  gần 50t, nhưng với sự đầu tư chăm chút của ông lớn DG, chắc chắn Nathalie Stutzmann sẽ tiếp tục đưa ra nhiều khám phá thú vị, những cuộc chinh phục âm nhạc mới trong tương lai.

– Nathalie Stutzmann – Sento in seno ch’in pioggia – Il Giustino – Antonio Vivaldi.

– Nathalie Stutzmann – Schast’je, Op.79a, No.11 – Dmitri Shostakovich. (with Luba Orgonasova – Soprano, Philip Langridge – Tenor)

c6-fiorenza-cossotto

18. Fiorenza Cossotto (1935~) – Italian mezzo-soprano.

  Fiorenza Cossotto –  cái tên đã làm mưa làm gió tất cả những sân khấu opera lừng danh nhất cũng như những all-stars casting opera productions ở những hãng đĩa tên tuổi nhất trong suốt hơn 2 thập niên 60s-80s, – người kế vị , thậm chí còn toả sáng hơn cả người tiền nhiệm tài danh Giulietta Simionato trong những vai diễn mezzo-soprano kịch tính, đứng ở vị trí gần cuối trong cái danh sách kỳ cục này. Sẽ có không ít người cho rằng đây là 1 trò đùa thiếu duyên.

  Nhưng thực sự đúng là vậy, dù tôi luôn thích giọng hát khổng lồ và rực lửa của Cossotto,  thậm chí khi mới triển khai danh sách này, tôi vốn xếp bà ở vị trí thứ 12, trên cả Verrets, von Otter, Bumbry,… nhưng khi nghe lại một loạt các bản thu âm, tôi lại dường như giảm dần sự hứng thú. Đối với mọi mezzo-soprano trước, sau và kể cả những người cùng thời với Cossotto, bà luôn là một dramatic mezzo soprano nằm ở top đầu , một Verdian mezzo ít người có thể so kè. Bà là người luôn gây cho tôi một ấn tượng mạnh mẽ ngay từ đầu, thế nhưng nó nhanh chóng bị thay thế bởi những giọng hát khác đẹp hơn hoặc giàu cảm xúc hơn hoặc kĩ thuật tốt hơn. Tôi rất khó khăn khi lựa chọn 1 bản thu âm điển hình của bà mà tôi yêu thích. Santuzza, Amneris, hay Azucena của bà dường như khó có thể tìm ra tì vết và chắc chắn là đàn em Dolora Zajick sẽ còn phải phấn đấu nhiều để sánh bằng, nhưng một cách cá nhân, tôi lại thích sự thể hiện của Obraztsova hơn. Cossotto hát “La Favorita” vô cùng xuất sắc, nhưng ở tất cả những aria đinh, đều không mang lại sự hấp dẫn cho tôi bằng Simionato hay thậm chí là Stignani. Khi nghe những note trầm dầy cồm cộp như con dấu đóng mạnh vào tờ giấy của I.Bogachyova hay Ewa Podles trong “Re dell’abisso”  tôi bỗng thấy phần thể hiện Ulrica đầy góc cạnh của Cossotto trở nên ít nhiều kém sắc. Và tương tự với Eboli, với lady Macbeth, với Dalila, với Carmen, với Rosina, với Cherubino, v.v…

  Tất nhiên, như đã nói, Cossotto không hề mờ nhạt, không phải dạng nghệ sỹ mà bạn dễ dàng có thể để trôi tuột qua tai mà không đọng lại gì. Bà còn là 1 nghệ sỹ cá tính mạnh (ngay cả ở ngoài đời), và chính cái cá tính mạnh ấy đem về cho bà 1 lượng anifan đáng kể khi bà không ngại ngần upstage những tên tuổi lừng lững như Maria Callas hay Leontyne Price ngay trên sân khấu trong những buổi diễn ở cuối sự nghiệp của họ (dù Cossotto luôn lên tiếng phủ nhận và đưa ra những lý giải riêng cho hành động của mình). Tôi không phán xét con người bà, ngay cả cả khi đã đọc về những scandals ấy, nó cũng không khiến tôi khó chịu vơi bà, vì dù gì với tôi, bà vẫn là 1 nghệ sỹ tài năng, một giọng mezzo không thể bỏ qua của thập niên 60,70.

  Tôi lựa chọn ở đây 2 bản thu âm mà tôi thấy thích thú nhất trong số những bản ghi âm của bà mà tôi từng nghe. Một trong 1 vở opera ít được ghi âm của Verdi “Un giorno di regno”, và một trong 1 recital album được ghi âm và xuất bản  vào thập niên 60, khi giọng hát của Cossotto đang ở thời kì vàng son.

Download:

– Fiorenza Cossotto – Grave a core innamorato … Se dee cader la  – Un Giorno di Regno – Giuseppe Verdi.

– Fiorenza Cossotto – Voce di donna o d’angelo – La Gioconda – Amilcare Ponchielli.

c7-ewa-podles

19. Ewa Podleś (1952~) – Polish contralto.

  Tôi rất tiếc rằng, dù đã gần bước vào nửa cuối sự nghiệp, một giọng contralto đẹp hiếm có như Ewa Podles vẫn không được một hãng thu âm “đại gia” nào để mắt tới. Phần lớn các bản thu âm của bà là các buổi diễn live hoặc những recital album cho các hãng đĩa không tên tuổi. Giọng Contralto thực sự đã là rất hiếm, nhưng giọng contralto có âm thanh dày và đẹp  như Ewa Podles còn hiếm hơn.  Ewa Podles sinh ra để dành cho những vai diễn như La Cieca (La Gioconda) hay Ulrica (Un Ballo in Maschera). Khác với kiểu giọng mạng tính thính phòng như Stutzmann, Ewa Podles là giọng hát dành cho các nhà hát với âm thanh khoẻ mạnh, vang dày, ngay cả ở những note thấp nhất cũng rõ ràng, đầy đặn không chút mờ xỉn.

  Ewa Podles sở hữu một âm vực đáng ngưỡng mộ, có thể so với Marian Anderson, cùng với kĩ thuật coloratura xuất sắc, thế nên không ngạc nhiên khi bà dễ dàng thành công với không ít kịch mục của Handel cũng như opera Belcanto. Tôi đã nghe rất nhiều người hát Tancredi xuất sắc trước đây, nhưng với phần rondo chói sáng ở màn cuối, Ewa Podles vẫn dư sức làm tôi há hốc mồm. Ngay cả những note Do cao thuộc âm vực soprano cũng không phải trở ngại đáng kể với bà, hơn thế, bà vẫn giữ được âm sắc sâu tối quyến rũ đặc trưng chứ không hề bị biến dạng hay thay đổi sắc giọng vì quá sức.

  Dù là một giọng nữ trầm tuyệt đẹp nhưng không hẳn là Ewa podles không phải là không có ít nhiều nhược điểm. Rất nhiều khi giọng hát của bà thiếu độ trữ tình và những đường legato mượt mà cần thiết, thậm chí lắm lúc khá nặng nề trong những tiểu phẩm thanh nhạc thính phòng. Bà hát Carmen (1 Carmen …contralto !!!) hay Rosina mang nhiều vẻ vụng về hơn là sự duyên dáng, nữ tính (Ewa Podles dường như phù hợp với những vai trouser roles mang tính heroic hơn). Càng lớn tuổi, Ewa Podles càng có những note thấp dầy đẹp, nhưng tiếc rằng, tuổi tác cũng làm giảm vẻ đẹp và sự chính xác của những note cao ấn tượng của bà.

  Đòi hỏi sự hoàn hảo của 1 ca sĩ đã bước vào tuổi lục tuần có lẽ là hơi tham lam, tôi không dám chở đợi hay hi vọng gì với những đỉnh cao mới mà Podles có thể sẽ tạo nên. Những gì bà đã làm được, với tôi đã là quá mỹ mãn rồi. Tôi xếp bà ở 1 vị trí khiêm tốn trong cái danh sách này như vậy, không phải vì những điểm yếu của Podles tôi đã kể ra ở trên (tôi làm màu hoa lá hẹ, bới bèo ra bọ vậy thôi chứ ai chẳng có tì vết, keke). Tôi đã nghe không ít rất những giọng hát đẹp, những mezzo/contralto tài năng nhưng cuối cùng vì lý do nào đó, tôi đã không chọn họ, tôi chọn Ewa Podles. Vậy là đủ.

Download:

– Ewa Podles – Perche turbar la calma (Rondo) – Tancredi – Gioachino Rossini.

– Ewa Podles – Nie ma czego trzeba, Op.74, No.13 – Frédéric Chopin.

c8-magdalena-kozena

20. Magdalena Kožená (1973~) – Czech mezzo-soprano.

  Tôi vốn không chọn Kozena cho cái danh sách này từ đầu. Thực tế là với những gương mặt mezzo xuất sắc hiện nay, Kozena cũng không phải cái tên quá nổi bật. Đánh giá 1 cách công bằng, âm sắc của Kozena không dầy, ấm như 1 Elina Granca đang ngày càng chín mùi, không có kĩ thuật coloratura chắc chắn với âm vực hoành tráng như Joyce Didonato, cũng không có sự sáng tạo và 1 cá tính sắc nét như Viviaca Genaux (người lúc đầu tôi chọn cho vị trí này). Ngay cả các đàn chị kém may mắn hơn, không vớ được 1 hợp đồng ghi âm béo bở với DG như Olga Borodina, hay Vesselina Kassarova, Kozena cũng tỏ ra nhợt nhạt hơn rất nhiều. Cùng 1 con đường và điều kiện, nếu như Von Otter đã khẳng định 1 cách chắc chắn vị trí của mình trong làng nhạc, Kozena vẫn nhiều khi chỉ được người ta nhớ đến vì cái bóng của ông chồng danh tiếng (nhạc trưởng Simon Rattle) hay là 1 nhan sắc (rất đau đớn khi phải thú nhận rằng: đã bắt đầu tàn tạ) đến từ Czech – vựa gái đẹp trứ danh của đông âu hơn là tài năng thực sự.

  Những bản thu âm đầu tiên mà tôi nghe của Kozena không hề gây ấn tượng gì sâu sắc. “Lamento” khiến tôi buồn ngủ. Tôi liên tục phải  ấn next khi nghe Vivaldi album. Và khó kiếm 1 ca sĩ nào hát opera Pháp khô khốc và vô duyên như Kozena (thế mà gần đây cô nàng dám tự tin thu âm complete cả … Carmen cơ đấy!!!). Ngay cả các ca khúc nghệ thuật Czech của những nhà soạn nhạc đồng hương (như  Dvořák, Janáček, Martinů,…) Kozena hát cũng không có gì quyến rũ hơn những người khác (dù album “song my Mother taught me” hát những ca khúc của các nhà soạn nhạc đồng hương được đánh giá khá cao và đạt nhiều giải thưởng uy tín).

  Như vậy thì Kozena có điểm gì nổi bật để tôi “yêu thích” để nhắc đến ở đây? Từ “ah mio Cor”, tôi đã bắt đầu có 1 cái nhìn khác về Kozena. Kozena có thể không hẳn là người hát Handel đỉnh nhất, nhưng là người tạo nhiều hứng thú nhất với tôi trong những aria của Handel. Kozena không sử dụng kiểu hát trơn tuột như Emma Kirkby, cũng không hát Handel theo phong cách belcanto phô diễn kĩ thuật màu sắc như nhiều tên tuổi khác thế hệ trước và kể cả gần đây (có thể kể đến Sills, Caballe, Horne,…). Thậm chí đôi khi cô tỏ ra kịch tính hơi quá mức cần thiết, tuy nhiên nó vẫn vừa ở giới hạn dễ chịu. Những note hoa mĩ cũng được cài cắm khá duyên dáng và không phô trương. Vẫn phong cách hát thông minh ấy, “Mozartiard” giúp tôi hiểu vì sao Kozena từng đạt giải vô địch cuộc thi thanh nhạc danh tiếng mang tên Mozart ở chính Salzburg – quê hương của nhà soạn nhạc thiên tài này, khi mới 22t. Kozena cố gắng hát 1 cách chân phương nhất, nhưng không phải kiểu hát trơn đơn điệu, không cố giả bộ trong vai 1 mezzo tuổi teen để hát thứ âm nhạc trong trẻo của Mozart. Quyết tâm làm tiến sâu vào địa hạt âm nhạc Baroque, tiền Baroque, “Lettere Amorose” như 1 cơn gió mát lành và dịu nhẹ khiến tôi thấy thân thuộc với thứ âm nhạc thời kì này hơn, dù album đó không được đánh giá tốt.

  Những bản thu âm tôi ấn tượng nhất ở Kozena chính là từ debut album “Bach arias” – 1 album mà gần đây tôi mới biết. Khi thực hiện album này cho 1 hãng ghi âm nhỏ của Czech, Kozena chưa hề nổi tiếng (dù đã giắt lung vài giải thưởng quốc tế) và cũng chưa gặp Simon Rattle.  Kozena mới hơn 20t, trong veo, tinh sạch và tươi tắn từ giọng hát đến phong cách thể hiện. Chưa bao giờ tôi cảm thấy cuốn hút với thanh nhạc của Bach như vậy. Tôi nghĩ rằng chỉ cần album này cũng đủ để khẳng định tài năng không thể chối bỏ của Kozena. DG sau khi đánh hơi được bản thu âm này, đã lập tức mua lại và phát hành dưới label của mình vào 2 năm sau cùng 1 hợp đồng ghi âm độc quyền hấp dẫn với Kozena. Album nhận được những lời phê bình hết sức hào phóng và 1 sự nghiệp quốc tế sáng lạn trải rộng dưới chân Kozena.

  Giọng hát ngày một định hình cá tính riêng, không phải kiểu trong veo, thơ ngây như lúc đầu, Kozena có thể hài lòng với những gì mình đạt được. Kozena chắc chắn sẽ không bao giờ trở thành 1 Janet Baker thứ 2 như người ta kỳ vọng, nhưng nếu nghĩ rằng chỉ vì là Lady Rattle mà Kozena có những thành tựu như hiện nay thì e là đánh giá này hơi hời hợt.  Tôi yêu thích nghệ thuật của cô, giọng hát của cô qua những bản ghi âm mà tôi đã nghe, và với tôi thì Kozena là 1 nghệ sỹ tài năng. Tôi yêu thích cô chỉ đơn giản vậy  thôi.

Download:

– Magdalena Kozena – Kommt, ihr angefochtnen Sünder, BWV.30, Nr.05 – Johann Sebastian Bach.

– Magdalena Kozena – Felici gl’animi – Girolamo Kapsberger.

altos

20 ++ , một vài (hay rất nhiều) người khác nữa …

  Trong dự định ban đầu của tôi, 2 vị trí cuối trong danh sách này vốn là contralto vĩ đại E. Schumann-heink và coloratura mezzo trẻ gốc Alasca, Vivica Genaux (hoặc Joyce didonato – 2 người tôi luôn phân vân). Tất cả chỉ thay đổi khi tôi nghe lại album Chopin của Ewa Podles và “Bach arias” của Kozena. (Cái nhận định hời hợt,”sống dựa nhờ anh chồng nổi tiếng” về Kozena chính là nhận định ban đầu của tôi chứ chẳng phải ai khác). Tôi đã làm 1 cuộc tái khám phá lại 2 giọng hát này. Và cuối cùng tôi đã dành 2 vị trí cuối cho họ. Nhưng điều đấy không có nghĩa là tôi đánh giá thấp hơn hay ít yêu thích Schumann-heink hay Genaux hay rất nhiều người khác nữa. Nó chỉ là vấn đề thời điểm. Còn rất nhiều tài năng khác, mà tôi cho rằng tôi không đủ tự tin đánh giá về họ khi tôi không có nhiều bản thu âm của họ, hoặc chưa gây 1 ấn tượng đủ mạnh để tôi tự tin rằng họ là “favorite artists” của tôi. Tôi muốn nhắc đến ở đây 1 vài cái tên khác nữa, rằng không phải tôi bỏ quên họ, không phải tài năng của họ chưa đủ hấp dẫn tôi mà chỉ là tại thời điểm mà tôi hoàn thành cái danh sách này, 20 người kia đã mang lại cho tôi nhiều cảm xúc rõ nét hơn chút ít.

  Tôi muốn nói đến Zara Dolukhanova, một giọng mezzo thính phòng xuất sắc người Armenian, một Berganza đầy tinh tế của Liên Xô thập niên 50. Một người nữa mà tôi muốn nhắc đến nữa là vị chủ khảo cuộc thi thanh nhạc danh tiếng Tchaikovsky năm 2007 – NSND Irene Bogachyova, người mà cả tài năng và giọng hát đều không thua kém E.Obraztsova, nhưng lại không may mắn có 1 sự nghiệp quốc tế như giọng ca đồng hương. Cũng không thể không kể đến Elena Cernei –  Nghệ sỹ công huân Rumani, một trong những nghệ sỹ đông âu có 1 sự nghiệp biểu diễn huy hoàng ở cả 2 bên bờ Đại Tây Dương suốt thập niên 60, từ Met đến La Scala lẫn cả Bolshoi, một giọng mezzo xuất sắc trên mọi phương diện (kĩ thuật, âm sắc, diễn xuất, ngoại hình), nhưng không hiểu sao không lọt vào mắt xanh của 1 hàng ghi âm lớn nào. Rồi những Rise Stevens, Regina Resnik, Tatiana Troyanos, Sigrid Oneghin, Fedora Barbieri, Irena Arkhipova, Clara Butt, Ernestine Schumann-heink, Jennie Tourel, vân vân và vân vân, …

  Tôi cho rằng rất nhiều người như Cernei, hay Podles, rằng vì 1 lí do nào đó, họ không để lại nhiều bản thu âm và được các hàng đĩa lỡn o bế dù tài năng và giọng hát của họ đã được khẳng định. Có nhiều người khác như Obukhova, như Stignani…, những bản thu âm có chất lượng âm thanh tốt chỉ được thực hiện khi họ đã qua thời kì hoàng kim. Càng khám phá các bản thu âm của các nghệ sỹ, tôi càng cảm thấy nó rất rộng lớ. Làm sao tôi có thể tìm nghe hết được , có thể tìm hiểu hết được. Những giọng ca đỉnh cao bị lớp bụi mờ của thời gian che phủ hay cả những giọng ca trẻ tài năng đang phải vật vã khẳng định mình trên con đường nghệ thuật chông gai hiện nay tại cái nơi mà ít nhiều bị chi phối bởi những thứ ngoài nghệ thuật như tính thương mại hay sự lạnh lùng của cỗ máy công nghiệp ghi âm. Họ ở đâu? Tôi có đủ tinh tường đề nhận ra họ không?

  Phần lớn những người trong danh sách trên đều là những người mà hầu như những người nghe và yêu thích opera đều biết tới, đơn giản vì họ có 1 sự nghiệp ghi âm (chứ không chỉ riêng biểu diễn) sáng chói với cơ man không biết bao nhiêu là album nhạc. Tôi chỉ việc nghe, và nhặt ra trong số đó thôi. Sự đánh giá, yêu thích, hơn kém hoàn toàn chỉ dưới góc độ cá nhân, chủ quan. Những người khác, thì chẳng qua là họ may mắn hơn khi những album không quá phổ biển của họ “may mắn” nằm trong kệ đĩa của tôi (hay chính xác hơn là tôi may mắn có duyên với bản ghi âm của họ).

– End –

Tự kỉ…

Hermann Prey (1928-1998)

Der Wanderer an den Mond

Johann Gabriel Seidl (1804-1875)

Ich auf der Erd’, am Himmel du

Wir wandern beide rüstig zu:

Ich ernst und trüb, du mild und rein,

Was mag der Unterschied wohl sein?

Ich wandre fremd von Land zu Land,

So heimatlos, so unbekannt;

Berg auf, Berg ab, Wald ein, Wald aus,

Doch bin ich nirgend, ach! zu Haus.

Du aber wanderst auf und ab

Aus Ostens Wieg’ in Westens Grab,

Wallst Länder ein und Länder aus,

Und bist doch, wo du bist, zu Haus.

Der Himmel, endlos ausgespannt,

Ist dein geliebtes Heimatland;

O glücklich, wer, wohin er geht,

Doch auf der Heimat Boden steht!

Thằng du đãng tự kỉ với trăng

Tao ở dưới mặt đất,

Mày thì tít trên giời.

Bố hai thằng dở hơi!

Rủ nhau lang thang mãi.

Tao trầm tư, tăm tối

Mày êm ái, sạch trong.

Tao với mày, thật lòng

….Giống nhau không?…Giống c*t!

 —

Tao một đời dờ dật,

Cứ nay đó, mai đây.

Gốc gác chẳng ai hay,

Thân này không ai biết.

Tao cứ đi mải miết,

Băng rừng, vượt núi cao.

Nhưng tró má làm sao!

…éo đâu là nhà cả.

 —

Còn mày kể cũng lạ,

Suốt ngày cứ tung tăng.

Sáng dậy từ nôi đông,

Mộ tây đêm say giấc.

Mẹ cái thằng củ c…

Mày chỉ việc rong chơi,

Vì có đi mọi nơi

Cũng đều nhà mày tất.

Vượt muôn ngàn tầm mắt

Bầu trời rộng bao la,

Nhưng nơi đâu cũng là

Nhà thân thương mày hết.

Đệch cái thằng tró chết

Sao mày sướng như tiên!

Dù la liếm khắp miền,

Vẫn đứng trên đất mẹ.

(YIH dịch).

Download:

Franz Schubert – Der Wanderer an den Mond op. 80, no. 1, D. 870 – Hermann Prey

Hermann Prey (Baritone)

Karl Engel (Piano)

Recorded at Decca Studio,  in Oct 1962.

Lâu lắm rồi mới vào đc wordpress. Ngồi dịch 1 bài Lied, vừa đúng tâm trạng tự kỉ. Mond (Trăng) tiếng Đức hình như là giống đực, thế nên vừa xinh mềnh dịch bài này là thằng… Trăng =)).

Bài này chỉ thích nghe Hermann Prey hát…

My top 20 favourite Mezzo-sopranos & Contraltos – Part 2

  Tròn 1 tháng sau part 1 mới hoàn thành xong part 2, cứ đà này thì không biết là bao giờ mới kết thúc cái serries bài giời ơi này. 😀

  Giống như p.1, phần lớn các nghệ sỹ tôi đều giới thiệu 2 bản thu âm với các phong cách khác nhau. Một sẽ là thế mạnh của họ, còn lại là 1 tác phẩm đến từ quốc gia nơi họ sinh ra, hoặc 1 trích đoạn ít phổ biến, một phong cách ít được biết đến của người đó. Ở part 2 này, tôi cũng muốn dành chút nhận xét, so sánh, lý giải vì sao tôi đánh giá họ cao hơn hay thấp hơn người khác hoặc tại sao có những biến động nho nhỏ so với danh sách dự kiến ban đầu của tôi.

  Nhưng có những thay đổi không còn kịp nữa. Như người đầu tiên trong part 2 này, tôi ước giá như có thể tăng lên vài bậc…

Giống như p.1, phần lớn các nghệ sỹ tôi đều giới thiệu 2 bản thu âm với các phong cách khác nhau. Một sẽ là thế mạnh của họ, còn lại là 1 tác phẩm đến từ quốc gia nơi họ sinh ra, hoặc 1 trích đoạn ít phổ biến, một phong cách ít được biết đến của người đó. Ở part 2 này, tôi cũng muốn dành chút nhận xét, so sánh, lý giải vì sao tôi đánh giá họ cao hơn hay thấp hơn người khác hoặc tại sao có những biến động nho nhỏ so với danh sách dự kiến ban đầu của tôi.

Nhưng có những thay đổi không còn kịp nữa. Như người đầu tiên trong part 2 này, tôi ước giá như có thể tăng lên vài bậc…

 07.Christa Ludwig(1928~) – German mezzo-soprano

  “Legato, phải luôn legato – đấy chính là những gì Karajan đã truyền đạt cho tôi…” Christa Ludwig đã nhấn mạnh điều đó trong 1 masterclass do bà hướng dẫn. Đương nhiên bà cũng tuân thủ 1 cách nghiêm ngặt nó (legato) đến mức dường như rất khó thấy 1 khoảng trống bất hợp lý nào trong mỗi câu nhạc mà bà đã từng hát và thu âm xuyên suốt sự nghiệp của mình.

Tôi phải cảm ơn cái loạt bài này, vì nhờ nó tôi mới khám phá lại hoàn toàn Ludwig, một nghệ sỹ mà đến bây giờ tôi có thể khẳng định rằng: bà là hình dung đầy đủ và toàn diện nhất về giọng mezzo-soprano. Tôi không hiểu vì sao trước đây tôi lại có thể hờ hững với C.Ludwig đến vậy? Ngồi nghe lại Lohengrin (EMI/ R.Kempe – Grummer/Thomas/Ludwig/Fischer-Dieskau), toàn bộ màn 2 và đặc biệt là scene cuối màn 3, Ludwig đã “thổi bay” tôi hoàn toàn.  Bà đã cho tôi thấy một Wagnerian mezzo phải như thế nào. Điên loạn , kích động, thống lãnh cả dàn hợp xướng và dàn nhạc bằng âm thanh giọng hát màu mỡ và cá tính mãnh liệt. Một trường hợp đặc biệt lạ lùng khi có một giọng hát chính xác, lý trí kiểu Đức nhưng vẫn mang những xúc cảm mạnh mẽ và ấn tượng.

Tôi chưa từng thấy 1 mezzo nào đa dạng và “chịu chơi” như Ludwig. Repertoire của bà trải dài từ Bach, Handel qua Mozart, Rossini đến Wagner, Verdi,… thậm chí kể cả những tác giả Avant-garde, hầu như tất thảy đều xuất sắc. Không như một số nghệ sỹ khác, dù cố gắng hát nhiều loại vai, nhưng luôn lộ những điểm yếu nhất định như người thì chạy note vụng, người thì không có giọng dầy khoẻ ấn tượng, người thì không hiểu phong cách âm nhạc,… Ludwig thì khác, cái gì bà cũng xơi ngon lành, làm đến nơi đến chốn, chất lừ. Nếu nghe bà hát bel canto, những note hoa mĩ chuẩn xác, mạch lạc hẳn khiến nhiều người nghĩ Berganza hay Horne sẽ có 1 đối thủ đáng gờm, còn các đàn em Lammore, von Stade, Garanca thì tha hồ ngước nhìn trân trối. Với Verdi thì mạnh mẽ, khoẻ khoắn chẳng kém Simionato hay Cossotto là bao (Ortrude còn chiến được ngon lành thế thì xá gì Công chúa xứ Eboli hay Lady Mcbeth). Ở địa hạt  lieder và ca khúc thính phòng, ngoài Baker, tôi không hề nghĩ đến 1 mezzo nào có thể so sánh. (Tôi thích Baker hơn một phần do taste; do âm sắc của Baker gần với taste của tôi hơn, chứ không phải Baker giọng đẹp hơn Ludwig, nó giống như tôi thích Tebaldi hơn Cerquetti, thích Obraztsova hơn Cossotto vậy). Có thể với Schubert, Schumann, Mahler, tôi ít nhiều tìm được người này người kia hay hơn, nhưng riêng với Brahms, tôi bị chinh phục bởi Ludwig hoàn toàn. Tôi nghĩ giá như tôi có thể đem cả cái album Brahms của bà lên đây. Lần đầu tiên tôi nghe Ludwig hát Brahms, tôi mới thấy lied của Brahms hấp dẫn đến vậy.

Tôi cũng hiểu ra điều mà khiến tôi từng ít quan tâm đến bà trước đây, chính là bà nhiều khi hơi giấu cá tính của mình đi và tôn trọng âm nhạc quá, (trừ Ortrude và Fidelio, rất hiếm khi thấy bà vượt giới hạn giọng hát). Thêm nữa là tuy giọng rất đẹp, nhưng âm sắc Ludwig lại hơi thiếu cái “gia vị mạnh” độc đáo riêng (kiểu âm sắc lạ như B.Fassbaender chẳng hạn) và âm khu thấp cũng không quá đầy đặn, xuất chúng, nên k0 dễ nhận ra. Điều cuối cùng là 1 lí do rất chủ quan,trước đây tôi nghe nhiều các tác giả Ý hơn là Đức (vốn là thế mạnh của Ludwig). Nhưng đấy là trước đây thôi, dù sao thì Ludwig với tôi bây giờ vẫn luôn là một trong những nghệ sỹ tuyệt vời nhất của thời kì hậu chiến WW2.

Download:

Christa Ludwig – Fahr heim! Fahr heim, du stolzer Helde – Lohengrin – Richard Wagner.

Christa Ludwig – Mädchenlied op.107, No.05- Johannes Brahms.

08. Marilyn Horne (1934~) – US. American mezzo-soprano/contralto.

  Không có gì phải nghi ngờ khả năng chạy note, trang trí note và sự thấu hiểu âm nhạc Bel canto 1 cách sâu sắc của Horne. Chính bà, chứ không phải Berganza, là người đầu tiên được Rossini Foundation trao giải thưởng “Golden Plaque” với danh hiệu “la più grande cantante Rossini” (ca sĩ hát Rossini vĩ đại nhất thế giới). Nhưng điều tôi thấy thích thú nhất ở bà, cho đến bây h vẫn là ở giọng hát ấm, muợt tuyệt đẹp với âm sắc hơi pha mũi cực kỳ đặc trưng của bà. Horne có thể không phải người hát Dalila xuất sắc nhất (thậm chí tôi k chắc là bà có diễn “Samson et Dalila”), nhưng kể từ sau khi nghe bà hát”Mon coeur s’ouvre a ta voix” , tôi thấy ai hát aria này cũng hết sức thô lậu, kể cả Obraztsova. Cái âm sắc đặc biệt đấy gần như rất ít thay đổi trong suốt hơn 20 năm sự nghiệp chói lọi, kể từ khi Horne quyết định rời bỏ các vai soprano để chuyển sang các repertoire mezzo/contralto. Từ những bản thu âm thời kì đỉnh cao những năm 60s cho đến khi đã bước vào cuối thập niên 80, giọng hát vàng ròng của Horne luôn giữ được chất lượng hảo hạng, ngọt ngào và vô cùng quyến rũ.

Về kỹ thuật Bel canto, Horne nhỉnh hơn Berganza một chút, âm vực cũng rộng hơn (lúc mới nghe, tôi ấn tượng mạnh với Horne hơn), nhưng theo thời gian tôi thấy Horne đôi lúc hơi lạm dụng kĩ thuật coloratura, điểm note trang trí nên thiếu sự duyên dáng, tinh sạch như Berganza. Tôi nhớ chính Rossini sau khi nghe prima donna A.Patti biểu diễn xong 1 aria của ông với 1 cadenza và rất nhiều note hoa mĩ ấn tượng do bà sáng tạo, đã nhận xét đại ý rằng :”Cô hát hay đấy, nhưng ấy không phải nhạc của tôi”. Tuy vậy, rất mâu thuẫn, tôi lại giới thiệu ở đây “una voce poco fa” – 1 trong những aria mẫu mực Bel canto của Rossini! Dù gì thì gì, điểm mạnh của Horne vẫn là ở các Bel canto repertoirs.  Phần cadenza phía sau aria mà Horne sử dụng khá lạ (có lẽ là cadenza viết cho Malibran, Viardot hoặc 1 contralto nổi tiếng thời trước nào đấy) và nó đc thể hiện 1 cách hoàn toàn kiểm soát  cùng 1 tiếng cười khẽ, rất nghịch ngợm ở cuối bài, nó đem lại cho tôi nhiều ngạc nhiên thú vị.

Download:

Marilyn Horne  – Una voce poco fa – Il barbiere di Siviglia – Gioachino Rossini.

Marilyn Horne – I bought me a cat – Old American Songs set – Aaron Copland (Arr.)

09. Nadezhda Obukhova (1886-1961) – Russian/Soviet mezzo-soprano.

 Liên Xô – đất nước mà tôi cho là “cái túi mezzo-soprano của thế giới” đã sinh ra ko biết bao nhiêu  dramatic mezzo kiệt xuất, khiến phương tây choáng ngợp như Sofia Preobrazhenkaya, Irina Arkhipova, Elena Obraztsova, Irina Bogachyova và gần đây nhất là Olga Borodina. Nhưng những giọng mezzo trữ tình độc đáo như Nadezhda Obukhova thì đã biến mất không còn dấu vết,  sau sự ra đi của Zara Doulukhanova. Zara Dolukhanova đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kế thừa ngôi vị của Obukhova, nhưng giọng hát quý phái, thanh tao của bà dường như chỉ là bức chân dung xanh xao, mờ ảo trước 1 Obukhova quá vĩ đại mà thôi.

Nadezhda Obukhova là 1 trong tứ trụ của nhà hát danh tiếng Bolshoi Opera (cùng với bass F.Chaliapin, sop A.Nezhdanova, tenor L.Sobinov – cũng là 4 gương mặt lớn nhất của nền thanh nhạc cổ điển Nga). Cuộc đời nghệ thuật của bà gắn liền với lịch sử thăng trầm của Liên Xô thời kì đầu, và chứa nhiều ẩn số khó giải đáp với không ít học giả phương tây. Họ k0 hiểu bằng cách nào mà 1 nghệ sỹ vốn xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản trong 1 gia đình nghệ thuật danh giá như vậy (Cụ nội của bà là nhà thơ lớn, bạn thân của Puskin, ông nội là nghệ sỹ piano, cũng là bạn của nhà soạn nhạc A.Rubinstein, và nhiều người trong gia đình là ca sĩ opera có tên tuổi của Bolshoi, bản thân bà cũng trải qua một tuổi thơ đầm ấm trong nhung lụa), lại có thể phát triển được 1 sự nghiệp huy hoàng như thế tại 1 đất nước cộng sản. Một bí ẩn khác là dù được có sự nghiệp lừng lẫy như vậy, nhưng ko hiểu vì sao cho đến tận năm 1937 (năm bà đươc phong tặng danh hiệu NSND Liên Xô), khi đã ngoài 50 , bà mới có những bản ghi âm đầu tiên (bà khi ấy mới “được mời” hay mới “đồng ý” chịu thu thanh?). Phần lớn các bản ghi âm để lại của Obukhova được thực hiện khi bà đã 60t, thậm chí là 70. Nhưng khi nghe lại, tất cả chúng ta hoàn toàn bất ngờ trước một thứ âm sắc Nga truyền thống đậm đặc, nhưng lại đẹp một cách thanh nhã, tinh khiết và tươi mát như những giọng hát bằng phân nửa tuổi của bà. Obukhova từng được học với Eleanora Lipman (1 học trò của mezzo Tây Ban Nha huyền thoại Pauline Viardot), nhưng người thầy có ảnh hướng lớn nhất đến bà là vị trưởng khoa nhạc viện Mátx-cơ-va, nhà sư phạm thanh nhạc lỗi lạc người Ý Umberto Massetti (người từng đào tạo nên những ca sĩ tài năng hàng đầu như B.Gigli, T.Schippa, R.Stracciari, A.Nezhdanova, N.Koshet và V.Barsova), điều này lý giải cho chúng ta vì sao bà có 1 giọng hát legato rất Ý, kĩ thuật chuẩn mực và tuổi thọ giọng lại kéo dài khác thường như thế.

Kịch mục chủ yếu của Obukhova là những vai chính và thứ trong Opera Nga như Pauline (The Queen of Spades), Lyubasha (The Tsar’s Bride), Konchakovna (Prince Igor), Marfa (Khovanshchina),… Tuy nhiên bà cũng không bỏ qua những vai mezzo chuẩn mực như Carmen , Charlotte (Wether), Dalila (Samson et Dalila),… Tôi gần như bị “dừng hình” khi lần đầu tiên nghe bản “Printemps qui commence” (hát bằng tiếng Nga) của bà. Một giọng hát legato mềm mại, nồng ấm, nuột nà như tan chảy trong mỗi câu nhạc, khiến bạn không thể dừng nghe dù chất lượng ghi âm hạn chế, dàn nhạc chơi rất tầm thường và cách hát của bà khác hẳn những ca sĩ thế hệ sau. Bà hát Carmen tuy không có khí chất phóng đãng, bốc lửa, mê hoặc nhưng tràn đầy tự do, phóng khoáng và sự nữ tính gợi cho tôi đến Victorya de los Angeles trong ghi âm Carmen danh tiếng của EMI.

Nhưng Romance và những bản dân ca Nga mới là thế mạnh tuyêt đối của Obukhova. Khi gần bước vào tuổi 60, bà quyết định rời bỏ sân khấu Opera, chỉ tập trung vào mảng ca khúc, và nhanh chóng trở thành “Queen of Russian Romance”. Trong suốt hơn 100 năm lịch sử ghi âm, có rất, rất ít nghệ sỹ có được cái khả năng kể chuyện cho người nghe bằng âm nhạc tài tình như vậy, Obukhova là 1 trong số hiếm hoi đó. Dù chẳng thể hiểu lời nhưng hãy thử bình tâm, thả lỏng người, để lắng nghe những bài dân ca buồn bã như những lời tâm sự giản dị, chân thành của 1 tâm hồn sâu sắc, hồn hậu, không thể Nga hơn. Nó là thứ cảm xúc ta chỉ thấy một đôi lần, ví như khi nghe Marian Anderson hát Spirituals hay Kathleen Ferrier hát dân ca Anh mà thôi.

Chúng ta cần biết rằng, Obukhova cùng với Nezhdanova là những người đầu tiên hát trên làn sóng phát thanh của chính quyền Soviet non trẻ ngay sau khi CM tháng 10 thành công. Bà là một nghệ sỹ được chính quyền ưu ái, các thế hệ nghệ sỹ nể trọng và nhân dân yêu mến, điều mà những tài năng thanh nhạc Nga khác cùng thời kỳ như N.Koshets hay O.Slobodskaya không may mắn có được, phải lưu lạc và phát triển sự nghiệp tại phương tây trong thời cuộc biến động của lịch sử. Sở hữu một sự nghiệp ấn tượng tại Liên Xô như vậy, nhưng Nadezhda Obukhova không được nhiều người yêu nhạc phương tây biết đến, những bản thu âm của bà phần lớn chỉ còn được quan tâm bởi một số ít critics và những nhà sưu tầm chuyên nghiệp. Thông tin về bà không nhiều lại chủ yếu bằng tiếng Nga, điều đó khiến tôi muốn giới thiệu nhiều hơn một chút so với những nghệ sỹ đã quá phổ biến với mọi người. Tôi từng xếp Obukhova ở vị trí thứ 11 trong top20 của tôi, nhưng sau khi nghe một loạt các bản thu âm của bà, tôi đã không ngần ngại nhấc bà vào top10. Thậm chí nếu được nghe những bản thu âm sớm hơn, ở thời kì vàng son của sự nghiệp, có khi bà còn có một vị trí cao hơn nữa trong tôi nữa , biết đâu ? Cứ cho là tôi có gout tồi đi, nhưng bạn thử nghe một lần xem, giọng hát tài năng này thật sự rất đáng đuợc ghi nhận.

Download:

Nadezhda Obukhova – Matushka, Chto Vo Pole Pylno (Mother, it is dusty in the field) – Russian Folksong.

Nadezhda Obukhova – Marfa’s song – Khovanshchina – Modest Mussorgsky.

10. Giulietta Simionato (1910-2010) – Italian mezzo-soprano.

  Giới thiệu nhiều về Simionato liệu có là thừa quá không? Simionato nắm giữ toàn bộ những vai mezzo Ý quan trọng trong suốt thập niên 50s ở  tất cả các nhà hát tên tuổi nhất và các dự án ghi âm hoành tráng nhất của Decca, điều mà những đối thủ truyền kiếp của bà, mezzo F.Barbieri không thể làm được. Một nghệ sỹ nhận được sự tin tưởng và tôn trọng của cả 2 prima donna hàng đầu là Maria Callas và Renata Tebaldi thì khó có thể là 1 nghệ sỹ tầm thường, kém cỏi được. Nhưng phần lớn những bản ghi âm studio của Decca đều cho một hình dung khá nhợt nhạt về bà, dù âm sắc giọng hát của bà khá ăn mic . Vậy được ghi âm nhiều như Simionato liệu có là một lợi thế? Những note thấp của Simionato rõ ràng không tệ như cách mà Barbieri miêu tả, nhưng ở các Verdi roles (chiếm phần lớn trong sự nghiệp ghi âm cho Decca của bà) so với Barbieri hay thậm chí là các đàn em Cossotto hay Obraztsova, thì có phần kém sắc hơn nhiều. Tôi không biết bà có phải kiểu nghệ sỹ bị “khớp” phòng thu như Rysanek, Nilsson hay Crespin không, nhưng những bản thu âm live  hay những bản thu âm mono của hãng thu âm Ý ít tên tuổi Cetra cho ta thấy 1 Simionato khác hẳn: sống động, khá máu lửa và kỹ thuật màu sắc cực kỳ chắc chắn.

Sống trong thời kì mà chính Simionato cũng tự thú nhận là có quá nhiều những mezzo/contralto Ý xuất sắc như Gianna Pederzini, Ebe Stignani, Cloe Emo,… thật khó để tạo dựng một sự nghiệp ra tấm ra món. Tuy nhiên may mắn dù đến muộn nhưng vẫn mỉm cười với bà. Sau những năm tháng làm nền cho Stignani tại La Scala, Simionato đã có buổi diễn gây tiếng vang với Mignon của Thomas (1947). Simionato được dịp khoe âm vực rộng và kĩ thuật hát nhuần nhị của mình. Tiếp theo đó là những repertoirs nổi tiếng của Rossini. Nên nhớ rằng, khi C.Supervía qua đời, mấy năm sau, những vai Bel canto  mới được Stignani khai phá với khán giả trở lại và  sau đó mới được tiếp tục phát triển bởi Simionato, vì phần lớn giới ca sĩ Ý lúc ấy còn mải chìm đắm trong trường pháiVerismo. Nhiều color mezzo nổi tiếng sau này từng tham dự những khóa bồi dưỡng của Simionato về bel canto, điều đó chứng tỏ Simiosnato là mắt xích rất quan trọng tiếp nối cho một thế hệ Rossinian mezzo kế cận rực rỡ, khỏe khoắn và tràn trề năng lượng. Sẽ thật không bằng khi so sánh kỹ thuật màu sắc của bà với những những mezzo chuyên Bel canto thế hệ sau như Horne hay Berganza, nhưng nếu nghe Norma, Anna Bolena (live với Callas – giọng bà cũng rất match với giọng Callas!) , La Favorita hay thậm chí là những aria Rossini của Rosina, Isabela, Angela,… chắc bạn sẽ phải bất ngờ về kỹ thuật chạy note, những note cao sung mãn và đặc biệt là khả năng diễn xuất bằng giọng hát của bà. (Recommend CD trong series “Lebendige Vergangenheit” hơn là những bản ghi âm studio của Decca). Nghe bà hát Mignon bạn sẽ hiểu vì sao, bỗng chốc bà thoát phận lềnh bềnh “con sông con nước” để trở nên vụt sáng thành sao như thế.

Tuy nhiên phụ thuộc vào taste của khán giả ở thập niên này, Simionato không có điều kiện phát triển thế mạnh của mình ở những repertoire Bel canto mà phải tập trung chủ yếu vào Verdi, Verismo. Ơn trời là tất cả vẫn suôn sẻ. Nếu như ở bản ghi âm Premiére của vở Cavaleria Rusticana (P.Mascagni), bà mới chỉ được phân đóng 1 vai siêu phụ (mama Lucia) với vài câu nhạc trong cả vở thì chẳng bao lâu sau, bà đã khiến cho chính Mascagni phải thú nhận rằng : “Tôi vốn viết Santuzza dành cho soprano, mà nghe cô hát xong tôi nghĩ nó phải dành cho mezzo mới đúng”.  Tôi không quá ấn tượng với Azucena, công chúa Eboli hay Amneris của Simionato, nhưng cách bà hát Verismo quả là có nhiều khác biệt với kiểu cố tình kịch tính hóa giọng mình như những dramatic mezzo sau này…

Download:

Giulietta Simionato – Io conosco un garzoncel (Sung in Italian) – Mignon – Ambroise Thomas.

Giulietta Simionato – Voi lo sapete, o mamma – Cavalleria rusticana – Pietro Mascagni.

11. Conchita Supervía (1895-1936) – Spanish mezzo-soprano.

  Tôi phải thú nhận rằng, so với những nghệ sỹ đã giới thiệu ở trên, Supervía là người tôi nghe ít nhất. Ngoài 1 vài bản ghi âm của bà trong các album tổng hợp, collections, tôi thực sự chỉ mới biết đến bà trong cặp album “Supervia in opera and song” của hãng Nimbus trong serries Prima voce. (Bạn nào muốn tìm hiểu về những nghệ sỹ thời kì tiền WW2 thì không thể bỏ qua serries này, khuyên chân thành. Các bản ghi âm cũ từ những năm 1900 nhưng được thu trực tiếp từ đĩa 78 vòng, remaster cẩn thận, ít noise, chất lượng âm thanh khá ổn và booklet cũng nhiều thông tin thú vị).  Tôi không nghe nhiều những nghệ sỹ trước ww2, bạn sẽ thấy, phần lớn những nghệ sỹ tôi yêu thích đều thuộc vào thập niên 50-80, khi giọng hát của họ không bị che phủ bởi những hạn chế của kĩ thuật ghi âm. Tuy vậy, cũng có một vài trường hợp đặc biệt có thể kể ra như E.Caruso, T.Schipa, A.Galli-Curci, C.Muzio, E.Schumann, A.Nezhdanova,  R.Ponselle, T.Ruffo, F.Chaliapin, E.Berger, N.Obukhova, E.Stignani, E.Schumann-heink … những nghệ sỹ thế hệ trước mà tôi ít nhiều quan tâm, yêu thích và không bị ảnh hưởng bởi những bản ghi âm mono cũ kĩ. Tất nhiên  Conchita Supervía cũng là một trong số đó.

Trong kỷ nguyên “golden age of singing”, không thiếu những vocal miracles, Supervía vẫn nổi lên như 1 trong những gương mặt mezzo sáng giá nhất của thế hệ. Cái chết oan nghiệt năm bà mới 41t, khi đang ở trên đỉnh cao,  không làm mờ đi vị trí và sức ảnh hưởng của bà với nhiều mezzo tên tuổi sau này. Bà không chỉ sở hữu kĩ thuật coloratura xuất chúng đến khó tin, nắm lòng những vai mezzo khó nhằn nhất của Rossini, quan trọng hơn, ở bất cứ bản thu âm nào, bà cũng thể hiện cá tính riêng 1 cách cực kỳ rõ nét. Nét duyên của Berganza, kĩ thuật khủng của Horne và chất phóng khoáng tự nhiên của Bartoli, tất cả đều có trong Conchita Supervía. Tôi tiếc là không được nghe full complete Carmen của bà (toàn bộ Cd2 của boxset “Supervia in opera and song” là những trích đoạn quan trọng trong Carmen). Là một phụ nữ Tây Ban Nha sinh ra ở giữa xứ sở Catalan , bà thể hiện vô cùng sinh động 1 Carmen rất Bohemian: kiêu hãnh, nhiều màu sắc, khó nắm bắt chứ không khai thác quá đà khía cạnh nhục dục của nhân vật. Cách thể hiện rất gần với hình tượng Carmen khá thành công sau này của Berganza, nhưng lại đậm cá tính và nét hơn hẳn.

Vị trí thứ 11 trong top20fav này phản ảnh sự thiếu quan tâm khách quan  của tôi với sự nghiệp biểu diễn và ghi âm của Conchita Supervía hơn là tài năng và vị trí thực sự của bà – mezzo soprano xuất sắc nhất của thời kì tiền WW2.

Download:

Conchita Supervía – Les tringles des sistres tintaient (Chanson bohème) – Carmen – Goerge Bizet.

Conchita Supervía – Clavelitos – Joaquín Valverde.

12. Shirley Verrett (1931-2010) – US. American Mezzo-soprano/soprano.

  Sau đêm diễn Macbeth 1975 tại La Scala, những nhà phê bình khó tính nhất ở Milan đã gọi Shirley Verrett là “La Nera Callas” (Callas da đen). 1 năm sau cùng với đội hình trong mơ (Domingo/Cappuccilli/Ghiaurov do Abbado chỉ huy), Verrett đã để lại bản ghi âm để đời với với vai diễn đã làm nên tên tuổi cho mình Lady Macbeth (Macbeth-Verdi). Trừ phi bạn là người quá thần tượng 1 ai đó, còn một cách khách quan nhất, tôi chưa thấy 1 ai hát Lady Macbeth tuyệt đỉnh như Verrett.  Với 1 bệ phóng như thế, tài năng như thế và giọng hát tuyệt đẹp như thế, Verrett dù rất được trọng vọng, nhưng thật khó hiểu, chưa bao giờ Verrett được nhìn nhận là 1 trong những nghệ sỹ top class. Ngay cả so với người đồng hương da đen Grace Bumbry – tên tuổi của Verrett cũng khiêm tốn hơn nhiều, chứ đừng nói đến những Ludwig, Baker, Cossotto, Obraztsova hay thậm chí là Agnes Baltsa.  Ngoại trừ các bản complete opera mà bà tham gia (đa phần là vai thứ), cho đến khi bà qua đời, rất hiếm các ghi âm của bà xuất hiện trên thị trường, trừ album “Shirley Verrett – in Opera”. (cũng may là sau khi bà mất, Sony có tái bản lại 1 số recital album của bà).

Tuy nhiên vị trí của nghệ sỹ trong làng nhạc không hề có giá trị với sự yêu thích cá nhân của tôi, Shirley Verret không chỉ là một trong những nghệ sỹ da đen tôi yêu thích nhất (chỉ sau Marian Anderson và Leontyn Price), mà còn là một trong những giọng mezzo có âm sắc đẹp nhất với cái tai của tôi. Album “great Operatic Duets – Montserrat Caballé – Shirley Verrett” là 1 trong những album hiếm hoi mà tôi có thể cho 5* vì độ hoàn hảo. 2 giọng hát trong số những giọng hát đẹp nhất thế kỉ đã có 1 màn trình diễn ngoạn mục với những duet nổi tiếng nhất cho mezzo/soprano. Bản Barcarolle nổi tiếng được sử dụng ở một trong những cảnh lãng mạn và xúc động nhất của film “La vita è bella – Cuộc sống tươi đẹp”, cũng được lấy ra từ album huyền thoại này. Album không chỉ là sự kết hợp của 2 giọng hát đẹp cùng đẳng cấp – điều xuất hiện ở rất nhiều các duet album khác, mà hơn hết, sự hòa quyện hoàn hảo giữa 2 giọng hát tạo nên một cộng hưởng độc đáo, 1 “hương vị” mới cho những bản duet quen thuộc, giống như những viên kẹo sô-cô-la sữa hảo hạng nhất được làm nên từ những những nguyên liệu cao cấp nhất, hòa trộn theo một tỉ lệ cân bằng hoàn hảo nhất. Rất tiếc là Caballé và Verrett ít có dịp cộng tác với nhau sau này, nếu không Suther-Horne chắc chắn không thể trở thành cặp song ca nữ nổi tiếng duy nhất của sân khấu opera.

Khác với kiểu vị “châu âu” của Bumbry, vẻ đẹp trong âm sắc của Verret có vị “black” rất đậm, không thể trộn lẫn. Một giọng mezzo-soprano đặc quánh, đầy đam mê, gợi cảm nhưng khi cần có thể vươn tới những nốt cao ác liệt nhất ở tốc độ “bốc khói”. Không như nhiều nghệ sỹ ỷ có giọng hát đẹp sắn chỉ việc phô bày âm sắc giọng, những bản thu âm của Verrett dù là live hay studio luôn căng tràn cảm xúc và 100% nội lực từ bản thân. Điều đáng tiếc nhất ở Verrett có lẽ là cách bà xây dựng kịch mục thiếu sáng suốt cho mình, không những không phát huy thế mạnh của giọng, mà còn góp phần làm thui chột giọng hát quý giá của mình, chẳng hạn như việc bà quá tham hát các vai soprano. Ngoài Lady Macbeth,  tất cả những vai soprano còn lại như Tosca, Norma, Aida, Desdemona,… dù k0 đến mức tệ hại nhưng quá mờ nhạt và khập khiễng khi so với Caballé, Price, thậm chí là Freni hay Nilsson! Một số vai mezzo, tôi cứ nghĩ sẽ hợp với Verrett (như Công chúa Eboli hay Dalila) nhưng đến khi nghe các bản thu âm thật của bà ở những vai này lại thấy k0 hoàn toàn thỏa mãn. Cách bà đẩy kịch tính của vai diễn hơi lạ (?) và giọng hát có chút biến dạng ở những note cao và thấp nhất, có lẽ do bẩm sinh giọng của bà là trữ tình hơn là kiểu Verdian style (lady Macbeth là trường hợp ngoại lệ khó hiểu).

Tôi sẽ k0 giới thiệu lại Letter scene trong Macbeth vì đã từng nhắc đến trong 1 entry về bà trong blog này. Tôi giới thiệu ở đây 2 trích đoạn mà tôi cho là bộc lộ nhiều ưu điểm giọng hát của Verrett: khi toàn bộ quãng trung âm lộng lẫy, mịn màng của bà được thỏa sức bay lượn trong những tuyến giai điệu trữ tình, du dương.

Download:

Shirley Verrett – Belle nuit (Barcarolle) – Les Contes d’Hoffman – Jacques Offenbach. (duet with Montserrat Caballé – soprano)

Shirley Verrett – O ma lyre immortelle – Sapho – Jules Massenet.

(Còn tiếp).

Dietrich Fischer-Dieskau – The Master of Lieder

DIETRICH FISCHER-DIESKAU (Baritone)

28/05/1925 – 18/05/2012.

10h kém hôm qua , nhận được mess từ Phúc phan: Fiescher-dieskau vừa mất.

Lên Facebook đã thấy Pm của Trung Mai và status của Mr Cò.

…Ông đã 86 tuổi, ở cái tuổi này thì sự ra đi cũng đã được mọi người tiên lượng trước dù chẳng ai mong chờ. Thật chẳng biết viết gì và nói gì.

Download:

Lied: Waldesgespräch – Liederkreis op. 39, No. 03 –  Robert Schumann.

Dietrich Fischer-Dieskau (Baritone)

Christoph Eschenbach (Piano)

Recorded at Berlin-Lankwitz, Studio Siemens-Villa, in Jan 1974.

Tôi đang gần hoàn thành part 2 của serries Top20 mezzo-sopranos& contraltos. Thật trùng hợp, để lựa chọn bản thu âm điển hình giới thiệu về mezzo Christa Ludwig, tôi vừa tìm nghe lại bản Lohengrin (Rudolf Kempe chỉ huy đội hình Grummer, Thomas, Ludwig, Fischer-dieskau, Frick) – bản Lohengrin tôi yêu thích nhất. Toàn bộ màn 2, sự bùng nổ của cặp đôi Ludwig và Fischer-Dieskau như lấn át cả 2 vai chính Grummer và Thomas (phải nói thêm là Grummer là 1 trong những top fav soprano của tôi). Tôi từng nghĩ rằng Fischer-Dieskau thể hiện opera hơi khô, thiếu cá tính và theo chất oratorio hơi nhiều, kì thực tôi đã lầm . Fischer-Dieskau, giống Tito Gobbi vốn là người thông minh và rất chịu khó đào sâu vai diễn.  Điều mà tôi đã lầm tưởng chính vì giọng hát trữ tình rất sáng và đẹp (nhưng không có màu đặc biệt) của ông khiến nhiều vai diễn, nhất là với opera Verdi hơi thiếu sức nặng, độ đầy đặn về mặt âm thanh. Ông cũng không có xu hướng “sến” hóa, hoặc “tươi” hóa như H.Prey (most fav baritone của tôi) nên cách thể hiện của ông không được nhiều người yêu thích, dù rất nhiều critic đánh giá cao. Nếu bạn không nghe những bản thu âm (opera) của ông 1 cách kĩ càng, bạn sẽ thấy nó dễ dàng bị trôi tuột đi và thậm chí có thể đánh giá 1 cách phiến diện là nhạt nhẽo (như 1 sai lầm điên rồ đã từng của tôi).

Ở mảng Lieder và ca khúc thính phòng lại khác. Không 1 ai có thể nghi ngờ ngôi vị Master of Lieder của ông. Tôi chưa xem discography của ông nhưng riêng studio recording lieder của mỗi Schubert cho hãng Grammophon đã có những boxset hơn …20 đĩa! thậm chí gấp nhiều lần discography cả sự nghiệp biểu diễn của nhiều legend khác (đấy là chưa tính những composer khác, ở các label khác và các live perfs). Tôi không biết còn nghệ sỹ nào có từng ghi âm nhiều hơn ông không, nhưng quan trọng hơn, số lượng đồ sộ ấy vẫn đi kèm với chất lượng đỉnh cao. Mỗi bản thu âm đều là mẫu mực của nghệ thuật hát lieder. Với mỗi nghệ sỹ hát ca khúc, người ta chỉ có thể so sánh với Fischer-Dieskau , tỉ như chỗ này hát nhiều tình cảm hơn Fischer-Dieskau, bài kia hát bốc hơn ông, giọng này đẹp hơn ông, v.v… và v.v… Nhưng ở ông là sự cân bằng hoàn hảo, là chuẩn mực để mọi người so sánh (dù k phải lúc nào cũng có thể so sánh). Ông có sự nghiên cứu và phân tích tỉ mỉ, nghiêm cẩn từ tổng phổ đến lời thơ để có sự thấu hiểu sâu sắc nhất, chính xác nhất từ tác giả, tác phẩm điều mà với cá nhân tôi, trong số những lieder singer chỉ duy nhất E.Schwarzkopf là đạt tới (nhưng bà không có sự nghiệp ghi âm đồ sộ, cũng như sự đa dạng của Físcher-Dieskau).  Nghe các bản thu âm của ông với tôi là sự khám phá những tầng sâu của nghệ thuật hát lieder, của mỗi tác giả, ở mỗi tác phẩm, không phải là kiểu vừa nghe vừa có thể làm việc, thậm chí vừa có thể hát theo như H.Prey chẳng hạn. Chính vì thế, tôi cũng ít có thời gian nghe kĩ các bản thu âm của ông hơn (dù tôi cũng có vài chục CD của ông).  Tôi thậm chí còn từng chẳng nhớ nổi tên ông viết chính xác như thế nào, và để nhanh gọn, toàn viết tắt là F-D…

Nhưng chính Fischer-Dieskau cũng mở cho tôi những cách để tiếp cận với rất nhiều tác giả quen thuộc mà tôi vốn “khó vào”. Thật hài hước, một thời gian dài, tôi từng không hề thích bất cứ lied nào của Schumann trừ bộ “tình yêu và cuộc đời của người đàn bà” (Frauenliebe und lenben – op.42), cho đến khi một lần tình cờ ngồi bật lại album “Schumann Lieder” của DG (Fischer-Dieskau hát, Eschenbach & Demus đệm piano). OMG, Liệu tôi có thể ngô nghê, thiếu suy nghĩ đến mức dễ dàng đánh giá là Fischer-Dieskau khô khốc, thiếu cảm xúc? Ông thậm chí đôi khi còn nhiều cảm xúc hơn cả H.Prey với G.Souzay nữa, dù không thể hiện nức nở ra 1 cách dễ thấy. Hóa ra, tôi chỉ thiếu 1 đôi tai tinh tế và sự chăm chú lắng nghe kĩ càng mà thôi. Và từ đây, tôi tìm nghe lại những bản thu âm khác của ông và cả những nghệ sỹ khác để khám phá âm nhạc Schumann, Wolf, Mahler,… để tự xóa bỏ những định kiến ngớ ngẩn đã có và đang có của mình. Và không biết, đến bao giờ, tôi mới thoát khỏi cái “vũ trụ ca khúc” đấy đây…  🙂

Download: 

Lied: Ich will meine Seele tauchen – Dichterlieder Op.48, No.05 – Robert Schumann.

Lied: Und wüßten’s die Blumen, die klein – Dichterlieder Op.48, No.08 – Robert Schumann.

Dietrich Fischer-Dieskau (Baritone)

Christoph Eschenbach (Piano)

Recorded at Berlin-Lankwitz, Studio Siemens-Villa, in April 1975.

Xin gửi đến ông lòng ngưỡng mộ sâu sắc. Tài năng của ông, nghệ thuật của ông và hàng trăm bản thu âm tuyệt diệu ấy sẽ sống mãi trong lòng những người hâm mộ. R.I.P.

Figaro di Hanoi. 19/05/2012