My top 20 favourite Mezzo-sopranos & Contraltos – Part 2

  Tròn 1 tháng sau part 1 mới hoàn thành xong part 2, cứ đà này thì không biết là bao giờ mới kết thúc cái serries bài giời ơi này. 😀

  Giống như p.1, phần lớn các nghệ sỹ tôi đều giới thiệu 2 bản thu âm với các phong cách khác nhau. Một sẽ là thế mạnh của họ, còn lại là 1 tác phẩm đến từ quốc gia nơi họ sinh ra, hoặc 1 trích đoạn ít phổ biến, một phong cách ít được biết đến của người đó. Ở part 2 này, tôi cũng muốn dành chút nhận xét, so sánh, lý giải vì sao tôi đánh giá họ cao hơn hay thấp hơn người khác hoặc tại sao có những biến động nho nhỏ so với danh sách dự kiến ban đầu của tôi.

  Nhưng có những thay đổi không còn kịp nữa. Như người đầu tiên trong part 2 này, tôi ước giá như có thể tăng lên vài bậc…

Giống như p.1, phần lớn các nghệ sỹ tôi đều giới thiệu 2 bản thu âm với các phong cách khác nhau. Một sẽ là thế mạnh của họ, còn lại là 1 tác phẩm đến từ quốc gia nơi họ sinh ra, hoặc 1 trích đoạn ít phổ biến, một phong cách ít được biết đến của người đó. Ở part 2 này, tôi cũng muốn dành chút nhận xét, so sánh, lý giải vì sao tôi đánh giá họ cao hơn hay thấp hơn người khác hoặc tại sao có những biến động nho nhỏ so với danh sách dự kiến ban đầu của tôi.

Nhưng có những thay đổi không còn kịp nữa. Như người đầu tiên trong part 2 này, tôi ước giá như có thể tăng lên vài bậc…

 07.Christa Ludwig(1928~) – German mezzo-soprano

  “Legato, phải luôn legato – đấy chính là những gì Karajan đã truyền đạt cho tôi…” Christa Ludwig đã nhấn mạnh điều đó trong 1 masterclass do bà hướng dẫn. Đương nhiên bà cũng tuân thủ 1 cách nghiêm ngặt nó (legato) đến mức dường như rất khó thấy 1 khoảng trống bất hợp lý nào trong mỗi câu nhạc mà bà đã từng hát và thu âm xuyên suốt sự nghiệp của mình.

Tôi phải cảm ơn cái loạt bài này, vì nhờ nó tôi mới khám phá lại hoàn toàn Ludwig, một nghệ sỹ mà đến bây giờ tôi có thể khẳng định rằng: bà là hình dung đầy đủ và toàn diện nhất về giọng mezzo-soprano. Tôi không hiểu vì sao trước đây tôi lại có thể hờ hững với C.Ludwig đến vậy? Ngồi nghe lại Lohengrin (EMI/ R.Kempe – Grummer/Thomas/Ludwig/Fischer-Dieskau), toàn bộ màn 2 và đặc biệt là scene cuối màn 3, Ludwig đã “thổi bay” tôi hoàn toàn.  Bà đã cho tôi thấy một Wagnerian mezzo phải như thế nào. Điên loạn , kích động, thống lãnh cả dàn hợp xướng và dàn nhạc bằng âm thanh giọng hát màu mỡ và cá tính mãnh liệt. Một trường hợp đặc biệt lạ lùng khi có một giọng hát chính xác, lý trí kiểu Đức nhưng vẫn mang những xúc cảm mạnh mẽ và ấn tượng.

Tôi chưa từng thấy 1 mezzo nào đa dạng và “chịu chơi” như Ludwig. Repertoire của bà trải dài từ Bach, Handel qua Mozart, Rossini đến Wagner, Verdi,… thậm chí kể cả những tác giả Avant-garde, hầu như tất thảy đều xuất sắc. Không như một số nghệ sỹ khác, dù cố gắng hát nhiều loại vai, nhưng luôn lộ những điểm yếu nhất định như người thì chạy note vụng, người thì không có giọng dầy khoẻ ấn tượng, người thì không hiểu phong cách âm nhạc,… Ludwig thì khác, cái gì bà cũng xơi ngon lành, làm đến nơi đến chốn, chất lừ. Nếu nghe bà hát bel canto, những note hoa mĩ chuẩn xác, mạch lạc hẳn khiến nhiều người nghĩ Berganza hay Horne sẽ có 1 đối thủ đáng gờm, còn các đàn em Lammore, von Stade, Garanca thì tha hồ ngước nhìn trân trối. Với Verdi thì mạnh mẽ, khoẻ khoắn chẳng kém Simionato hay Cossotto là bao (Ortrude còn chiến được ngon lành thế thì xá gì Công chúa xứ Eboli hay Lady Mcbeth). Ở địa hạt  lieder và ca khúc thính phòng, ngoài Baker, tôi không hề nghĩ đến 1 mezzo nào có thể so sánh. (Tôi thích Baker hơn một phần do taste; do âm sắc của Baker gần với taste của tôi hơn, chứ không phải Baker giọng đẹp hơn Ludwig, nó giống như tôi thích Tebaldi hơn Cerquetti, thích Obraztsova hơn Cossotto vậy). Có thể với Schubert, Schumann, Mahler, tôi ít nhiều tìm được người này người kia hay hơn, nhưng riêng với Brahms, tôi bị chinh phục bởi Ludwig hoàn toàn. Tôi nghĩ giá như tôi có thể đem cả cái album Brahms của bà lên đây. Lần đầu tiên tôi nghe Ludwig hát Brahms, tôi mới thấy lied của Brahms hấp dẫn đến vậy.

Tôi cũng hiểu ra điều mà khiến tôi từng ít quan tâm đến bà trước đây, chính là bà nhiều khi hơi giấu cá tính của mình đi và tôn trọng âm nhạc quá, (trừ Ortrude và Fidelio, rất hiếm khi thấy bà vượt giới hạn giọng hát). Thêm nữa là tuy giọng rất đẹp, nhưng âm sắc Ludwig lại hơi thiếu cái “gia vị mạnh” độc đáo riêng (kiểu âm sắc lạ như B.Fassbaender chẳng hạn) và âm khu thấp cũng không quá đầy đặn, xuất chúng, nên k0 dễ nhận ra. Điều cuối cùng là 1 lí do rất chủ quan,trước đây tôi nghe nhiều các tác giả Ý hơn là Đức (vốn là thế mạnh của Ludwig). Nhưng đấy là trước đây thôi, dù sao thì Ludwig với tôi bây giờ vẫn luôn là một trong những nghệ sỹ tuyệt vời nhất của thời kì hậu chiến WW2.

Download:

Christa Ludwig – Fahr heim! Fahr heim, du stolzer Helde – Lohengrin – Richard Wagner.

Christa Ludwig – Mädchenlied op.107, No.05- Johannes Brahms.

08. Marilyn Horne (1934~) – US. American mezzo-soprano/contralto.

  Không có gì phải nghi ngờ khả năng chạy note, trang trí note và sự thấu hiểu âm nhạc Bel canto 1 cách sâu sắc của Horne. Chính bà, chứ không phải Berganza, là người đầu tiên được Rossini Foundation trao giải thưởng “Golden Plaque” với danh hiệu “la più grande cantante Rossini” (ca sĩ hát Rossini vĩ đại nhất thế giới). Nhưng điều tôi thấy thích thú nhất ở bà, cho đến bây h vẫn là ở giọng hát ấm, muợt tuyệt đẹp với âm sắc hơi pha mũi cực kỳ đặc trưng của bà. Horne có thể không phải người hát Dalila xuất sắc nhất (thậm chí tôi k chắc là bà có diễn “Samson et Dalila”), nhưng kể từ sau khi nghe bà hát”Mon coeur s’ouvre a ta voix” , tôi thấy ai hát aria này cũng hết sức thô lậu, kể cả Obraztsova. Cái âm sắc đặc biệt đấy gần như rất ít thay đổi trong suốt hơn 20 năm sự nghiệp chói lọi, kể từ khi Horne quyết định rời bỏ các vai soprano để chuyển sang các repertoire mezzo/contralto. Từ những bản thu âm thời kì đỉnh cao những năm 60s cho đến khi đã bước vào cuối thập niên 80, giọng hát vàng ròng của Horne luôn giữ được chất lượng hảo hạng, ngọt ngào và vô cùng quyến rũ.

Về kỹ thuật Bel canto, Horne nhỉnh hơn Berganza một chút, âm vực cũng rộng hơn (lúc mới nghe, tôi ấn tượng mạnh với Horne hơn), nhưng theo thời gian tôi thấy Horne đôi lúc hơi lạm dụng kĩ thuật coloratura, điểm note trang trí nên thiếu sự duyên dáng, tinh sạch như Berganza. Tôi nhớ chính Rossini sau khi nghe prima donna A.Patti biểu diễn xong 1 aria của ông với 1 cadenza và rất nhiều note hoa mĩ ấn tượng do bà sáng tạo, đã nhận xét đại ý rằng :”Cô hát hay đấy, nhưng ấy không phải nhạc của tôi”. Tuy vậy, rất mâu thuẫn, tôi lại giới thiệu ở đây “una voce poco fa” – 1 trong những aria mẫu mực Bel canto của Rossini! Dù gì thì gì, điểm mạnh của Horne vẫn là ở các Bel canto repertoirs.  Phần cadenza phía sau aria mà Horne sử dụng khá lạ (có lẽ là cadenza viết cho Malibran, Viardot hoặc 1 contralto nổi tiếng thời trước nào đấy) và nó đc thể hiện 1 cách hoàn toàn kiểm soát  cùng 1 tiếng cười khẽ, rất nghịch ngợm ở cuối bài, nó đem lại cho tôi nhiều ngạc nhiên thú vị.

Download:

Marilyn Horne  – Una voce poco fa – Il barbiere di Siviglia – Gioachino Rossini.

Marilyn Horne – I bought me a cat – Old American Songs set – Aaron Copland (Arr.)

09. Nadezhda Obukhova (1886-1961) – Russian/Soviet mezzo-soprano.

 Liên Xô – đất nước mà tôi cho là “cái túi mezzo-soprano của thế giới” đã sinh ra ko biết bao nhiêu  dramatic mezzo kiệt xuất, khiến phương tây choáng ngợp như Sofia Preobrazhenkaya, Irina Arkhipova, Elena Obraztsova, Irina Bogachyova và gần đây nhất là Olga Borodina. Nhưng những giọng mezzo trữ tình độc đáo như Nadezhda Obukhova thì đã biến mất không còn dấu vết,  sau sự ra đi của Zara Doulukhanova. Zara Dolukhanova đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kế thừa ngôi vị của Obukhova, nhưng giọng hát quý phái, thanh tao của bà dường như chỉ là bức chân dung xanh xao, mờ ảo trước 1 Obukhova quá vĩ đại mà thôi.

Nadezhda Obukhova là 1 trong tứ trụ của nhà hát danh tiếng Bolshoi Opera (cùng với bass F.Chaliapin, sop A.Nezhdanova, tenor L.Sobinov – cũng là 4 gương mặt lớn nhất của nền thanh nhạc cổ điển Nga). Cuộc đời nghệ thuật của bà gắn liền với lịch sử thăng trầm của Liên Xô thời kì đầu, và chứa nhiều ẩn số khó giải đáp với không ít học giả phương tây. Họ k0 hiểu bằng cách nào mà 1 nghệ sỹ vốn xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản trong 1 gia đình nghệ thuật danh giá như vậy (Cụ nội của bà là nhà thơ lớn, bạn thân của Puskin, ông nội là nghệ sỹ piano, cũng là bạn của nhà soạn nhạc A.Rubinstein, và nhiều người trong gia đình là ca sĩ opera có tên tuổi của Bolshoi, bản thân bà cũng trải qua một tuổi thơ đầm ấm trong nhung lụa), lại có thể phát triển được 1 sự nghiệp huy hoàng như thế tại 1 đất nước cộng sản. Một bí ẩn khác là dù được có sự nghiệp lừng lẫy như vậy, nhưng ko hiểu vì sao cho đến tận năm 1937 (năm bà đươc phong tặng danh hiệu NSND Liên Xô), khi đã ngoài 50 , bà mới có những bản ghi âm đầu tiên (bà khi ấy mới “được mời” hay mới “đồng ý” chịu thu thanh?). Phần lớn các bản ghi âm để lại của Obukhova được thực hiện khi bà đã 60t, thậm chí là 70. Nhưng khi nghe lại, tất cả chúng ta hoàn toàn bất ngờ trước một thứ âm sắc Nga truyền thống đậm đặc, nhưng lại đẹp một cách thanh nhã, tinh khiết và tươi mát như những giọng hát bằng phân nửa tuổi của bà. Obukhova từng được học với Eleanora Lipman (1 học trò của mezzo Tây Ban Nha huyền thoại Pauline Viardot), nhưng người thầy có ảnh hướng lớn nhất đến bà là vị trưởng khoa nhạc viện Mátx-cơ-va, nhà sư phạm thanh nhạc lỗi lạc người Ý Umberto Massetti (người từng đào tạo nên những ca sĩ tài năng hàng đầu như B.Gigli, T.Schippa, R.Stracciari, A.Nezhdanova, N.Koshet và V.Barsova), điều này lý giải cho chúng ta vì sao bà có 1 giọng hát legato rất Ý, kĩ thuật chuẩn mực và tuổi thọ giọng lại kéo dài khác thường như thế.

Kịch mục chủ yếu của Obukhova là những vai chính và thứ trong Opera Nga như Pauline (The Queen of Spades), Lyubasha (The Tsar’s Bride), Konchakovna (Prince Igor), Marfa (Khovanshchina),… Tuy nhiên bà cũng không bỏ qua những vai mezzo chuẩn mực như Carmen , Charlotte (Wether), Dalila (Samson et Dalila),… Tôi gần như bị “dừng hình” khi lần đầu tiên nghe bản “Printemps qui commence” (hát bằng tiếng Nga) của bà. Một giọng hát legato mềm mại, nồng ấm, nuột nà như tan chảy trong mỗi câu nhạc, khiến bạn không thể dừng nghe dù chất lượng ghi âm hạn chế, dàn nhạc chơi rất tầm thường và cách hát của bà khác hẳn những ca sĩ thế hệ sau. Bà hát Carmen tuy không có khí chất phóng đãng, bốc lửa, mê hoặc nhưng tràn đầy tự do, phóng khoáng và sự nữ tính gợi cho tôi đến Victorya de los Angeles trong ghi âm Carmen danh tiếng của EMI.

Nhưng Romance và những bản dân ca Nga mới là thế mạnh tuyêt đối của Obukhova. Khi gần bước vào tuổi 60, bà quyết định rời bỏ sân khấu Opera, chỉ tập trung vào mảng ca khúc, và nhanh chóng trở thành “Queen of Russian Romance”. Trong suốt hơn 100 năm lịch sử ghi âm, có rất, rất ít nghệ sỹ có được cái khả năng kể chuyện cho người nghe bằng âm nhạc tài tình như vậy, Obukhova là 1 trong số hiếm hoi đó. Dù chẳng thể hiểu lời nhưng hãy thử bình tâm, thả lỏng người, để lắng nghe những bài dân ca buồn bã như những lời tâm sự giản dị, chân thành của 1 tâm hồn sâu sắc, hồn hậu, không thể Nga hơn. Nó là thứ cảm xúc ta chỉ thấy một đôi lần, ví như khi nghe Marian Anderson hát Spirituals hay Kathleen Ferrier hát dân ca Anh mà thôi.

Chúng ta cần biết rằng, Obukhova cùng với Nezhdanova là những người đầu tiên hát trên làn sóng phát thanh của chính quyền Soviet non trẻ ngay sau khi CM tháng 10 thành công. Bà là một nghệ sỹ được chính quyền ưu ái, các thế hệ nghệ sỹ nể trọng và nhân dân yêu mến, điều mà những tài năng thanh nhạc Nga khác cùng thời kỳ như N.Koshets hay O.Slobodskaya không may mắn có được, phải lưu lạc và phát triển sự nghiệp tại phương tây trong thời cuộc biến động của lịch sử. Sở hữu một sự nghiệp ấn tượng tại Liên Xô như vậy, nhưng Nadezhda Obukhova không được nhiều người yêu nhạc phương tây biết đến, những bản thu âm của bà phần lớn chỉ còn được quan tâm bởi một số ít critics và những nhà sưu tầm chuyên nghiệp. Thông tin về bà không nhiều lại chủ yếu bằng tiếng Nga, điều đó khiến tôi muốn giới thiệu nhiều hơn một chút so với những nghệ sỹ đã quá phổ biến với mọi người. Tôi từng xếp Obukhova ở vị trí thứ 11 trong top20 của tôi, nhưng sau khi nghe một loạt các bản thu âm của bà, tôi đã không ngần ngại nhấc bà vào top10. Thậm chí nếu được nghe những bản thu âm sớm hơn, ở thời kì vàng son của sự nghiệp, có khi bà còn có một vị trí cao hơn nữa trong tôi nữa , biết đâu ? Cứ cho là tôi có gout tồi đi, nhưng bạn thử nghe một lần xem, giọng hát tài năng này thật sự rất đáng đuợc ghi nhận.

Download:

Nadezhda Obukhova – Matushka, Chto Vo Pole Pylno (Mother, it is dusty in the field) – Russian Folksong.

Nadezhda Obukhova – Marfa’s song – Khovanshchina – Modest Mussorgsky.

10. Giulietta Simionato (1910-2010) – Italian mezzo-soprano.

  Giới thiệu nhiều về Simionato liệu có là thừa quá không? Simionato nắm giữ toàn bộ những vai mezzo Ý quan trọng trong suốt thập niên 50s ở  tất cả các nhà hát tên tuổi nhất và các dự án ghi âm hoành tráng nhất của Decca, điều mà những đối thủ truyền kiếp của bà, mezzo F.Barbieri không thể làm được. Một nghệ sỹ nhận được sự tin tưởng và tôn trọng của cả 2 prima donna hàng đầu là Maria Callas và Renata Tebaldi thì khó có thể là 1 nghệ sỹ tầm thường, kém cỏi được. Nhưng phần lớn những bản ghi âm studio của Decca đều cho một hình dung khá nhợt nhạt về bà, dù âm sắc giọng hát của bà khá ăn mic . Vậy được ghi âm nhiều như Simionato liệu có là một lợi thế? Những note thấp của Simionato rõ ràng không tệ như cách mà Barbieri miêu tả, nhưng ở các Verdi roles (chiếm phần lớn trong sự nghiệp ghi âm cho Decca của bà) so với Barbieri hay thậm chí là các đàn em Cossotto hay Obraztsova, thì có phần kém sắc hơn nhiều. Tôi không biết bà có phải kiểu nghệ sỹ bị “khớp” phòng thu như Rysanek, Nilsson hay Crespin không, nhưng những bản thu âm live  hay những bản thu âm mono của hãng thu âm Ý ít tên tuổi Cetra cho ta thấy 1 Simionato khác hẳn: sống động, khá máu lửa và kỹ thuật màu sắc cực kỳ chắc chắn.

Sống trong thời kì mà chính Simionato cũng tự thú nhận là có quá nhiều những mezzo/contralto Ý xuất sắc như Gianna Pederzini, Ebe Stignani, Cloe Emo,… thật khó để tạo dựng một sự nghiệp ra tấm ra món. Tuy nhiên may mắn dù đến muộn nhưng vẫn mỉm cười với bà. Sau những năm tháng làm nền cho Stignani tại La Scala, Simionato đã có buổi diễn gây tiếng vang với Mignon của Thomas (1947). Simionato được dịp khoe âm vực rộng và kĩ thuật hát nhuần nhị của mình. Tiếp theo đó là những repertoirs nổi tiếng của Rossini. Nên nhớ rằng, khi C.Supervía qua đời, mấy năm sau, những vai Bel canto  mới được Stignani khai phá với khán giả trở lại và  sau đó mới được tiếp tục phát triển bởi Simionato, vì phần lớn giới ca sĩ Ý lúc ấy còn mải chìm đắm trong trường pháiVerismo. Nhiều color mezzo nổi tiếng sau này từng tham dự những khóa bồi dưỡng của Simionato về bel canto, điều đó chứng tỏ Simiosnato là mắt xích rất quan trọng tiếp nối cho một thế hệ Rossinian mezzo kế cận rực rỡ, khỏe khoắn và tràn trề năng lượng. Sẽ thật không bằng khi so sánh kỹ thuật màu sắc của bà với những những mezzo chuyên Bel canto thế hệ sau như Horne hay Berganza, nhưng nếu nghe Norma, Anna Bolena (live với Callas – giọng bà cũng rất match với giọng Callas!) , La Favorita hay thậm chí là những aria Rossini của Rosina, Isabela, Angela,… chắc bạn sẽ phải bất ngờ về kỹ thuật chạy note, những note cao sung mãn và đặc biệt là khả năng diễn xuất bằng giọng hát của bà. (Recommend CD trong series “Lebendige Vergangenheit” hơn là những bản ghi âm studio của Decca). Nghe bà hát Mignon bạn sẽ hiểu vì sao, bỗng chốc bà thoát phận lềnh bềnh “con sông con nước” để trở nên vụt sáng thành sao như thế.

Tuy nhiên phụ thuộc vào taste của khán giả ở thập niên này, Simionato không có điều kiện phát triển thế mạnh của mình ở những repertoire Bel canto mà phải tập trung chủ yếu vào Verdi, Verismo. Ơn trời là tất cả vẫn suôn sẻ. Nếu như ở bản ghi âm Premiére của vở Cavaleria Rusticana (P.Mascagni), bà mới chỉ được phân đóng 1 vai siêu phụ (mama Lucia) với vài câu nhạc trong cả vở thì chẳng bao lâu sau, bà đã khiến cho chính Mascagni phải thú nhận rằng : “Tôi vốn viết Santuzza dành cho soprano, mà nghe cô hát xong tôi nghĩ nó phải dành cho mezzo mới đúng”.  Tôi không quá ấn tượng với Azucena, công chúa Eboli hay Amneris của Simionato, nhưng cách bà hát Verismo quả là có nhiều khác biệt với kiểu cố tình kịch tính hóa giọng mình như những dramatic mezzo sau này…

Download:

Giulietta Simionato – Io conosco un garzoncel (Sung in Italian) – Mignon – Ambroise Thomas.

Giulietta Simionato – Voi lo sapete, o mamma – Cavalleria rusticana – Pietro Mascagni.

11. Conchita Supervía (1895-1936) – Spanish mezzo-soprano.

  Tôi phải thú nhận rằng, so với những nghệ sỹ đã giới thiệu ở trên, Supervía là người tôi nghe ít nhất. Ngoài 1 vài bản ghi âm của bà trong các album tổng hợp, collections, tôi thực sự chỉ mới biết đến bà trong cặp album “Supervia in opera and song” của hãng Nimbus trong serries Prima voce. (Bạn nào muốn tìm hiểu về những nghệ sỹ thời kì tiền WW2 thì không thể bỏ qua serries này, khuyên chân thành. Các bản ghi âm cũ từ những năm 1900 nhưng được thu trực tiếp từ đĩa 78 vòng, remaster cẩn thận, ít noise, chất lượng âm thanh khá ổn và booklet cũng nhiều thông tin thú vị).  Tôi không nghe nhiều những nghệ sỹ trước ww2, bạn sẽ thấy, phần lớn những nghệ sỹ tôi yêu thích đều thuộc vào thập niên 50-80, khi giọng hát của họ không bị che phủ bởi những hạn chế của kĩ thuật ghi âm. Tuy vậy, cũng có một vài trường hợp đặc biệt có thể kể ra như E.Caruso, T.Schipa, A.Galli-Curci, C.Muzio, E.Schumann, A.Nezhdanova,  R.Ponselle, T.Ruffo, F.Chaliapin, E.Berger, N.Obukhova, E.Stignani, E.Schumann-heink … những nghệ sỹ thế hệ trước mà tôi ít nhiều quan tâm, yêu thích và không bị ảnh hưởng bởi những bản ghi âm mono cũ kĩ. Tất nhiên  Conchita Supervía cũng là một trong số đó.

Trong kỷ nguyên “golden age of singing”, không thiếu những vocal miracles, Supervía vẫn nổi lên như 1 trong những gương mặt mezzo sáng giá nhất của thế hệ. Cái chết oan nghiệt năm bà mới 41t, khi đang ở trên đỉnh cao,  không làm mờ đi vị trí và sức ảnh hưởng của bà với nhiều mezzo tên tuổi sau này. Bà không chỉ sở hữu kĩ thuật coloratura xuất chúng đến khó tin, nắm lòng những vai mezzo khó nhằn nhất của Rossini, quan trọng hơn, ở bất cứ bản thu âm nào, bà cũng thể hiện cá tính riêng 1 cách cực kỳ rõ nét. Nét duyên của Berganza, kĩ thuật khủng của Horne và chất phóng khoáng tự nhiên của Bartoli, tất cả đều có trong Conchita Supervía. Tôi tiếc là không được nghe full complete Carmen của bà (toàn bộ Cd2 của boxset “Supervia in opera and song” là những trích đoạn quan trọng trong Carmen). Là một phụ nữ Tây Ban Nha sinh ra ở giữa xứ sở Catalan , bà thể hiện vô cùng sinh động 1 Carmen rất Bohemian: kiêu hãnh, nhiều màu sắc, khó nắm bắt chứ không khai thác quá đà khía cạnh nhục dục của nhân vật. Cách thể hiện rất gần với hình tượng Carmen khá thành công sau này của Berganza, nhưng lại đậm cá tính và nét hơn hẳn.

Vị trí thứ 11 trong top20fav này phản ảnh sự thiếu quan tâm khách quan  của tôi với sự nghiệp biểu diễn và ghi âm của Conchita Supervía hơn là tài năng và vị trí thực sự của bà – mezzo soprano xuất sắc nhất của thời kì tiền WW2.

Download:

Conchita Supervía – Les tringles des sistres tintaient (Chanson bohème) – Carmen – Goerge Bizet.

Conchita Supervía – Clavelitos – Joaquín Valverde.

12. Shirley Verrett (1931-2010) – US. American Mezzo-soprano/soprano.

  Sau đêm diễn Macbeth 1975 tại La Scala, những nhà phê bình khó tính nhất ở Milan đã gọi Shirley Verrett là “La Nera Callas” (Callas da đen). 1 năm sau cùng với đội hình trong mơ (Domingo/Cappuccilli/Ghiaurov do Abbado chỉ huy), Verrett đã để lại bản ghi âm để đời với với vai diễn đã làm nên tên tuổi cho mình Lady Macbeth (Macbeth-Verdi). Trừ phi bạn là người quá thần tượng 1 ai đó, còn một cách khách quan nhất, tôi chưa thấy 1 ai hát Lady Macbeth tuyệt đỉnh như Verrett.  Với 1 bệ phóng như thế, tài năng như thế và giọng hát tuyệt đẹp như thế, Verrett dù rất được trọng vọng, nhưng thật khó hiểu, chưa bao giờ Verrett được nhìn nhận là 1 trong những nghệ sỹ top class. Ngay cả so với người đồng hương da đen Grace Bumbry – tên tuổi của Verrett cũng khiêm tốn hơn nhiều, chứ đừng nói đến những Ludwig, Baker, Cossotto, Obraztsova hay thậm chí là Agnes Baltsa.  Ngoại trừ các bản complete opera mà bà tham gia (đa phần là vai thứ), cho đến khi bà qua đời, rất hiếm các ghi âm của bà xuất hiện trên thị trường, trừ album “Shirley Verrett – in Opera”. (cũng may là sau khi bà mất, Sony có tái bản lại 1 số recital album của bà).

Tuy nhiên vị trí của nghệ sỹ trong làng nhạc không hề có giá trị với sự yêu thích cá nhân của tôi, Shirley Verret không chỉ là một trong những nghệ sỹ da đen tôi yêu thích nhất (chỉ sau Marian Anderson và Leontyn Price), mà còn là một trong những giọng mezzo có âm sắc đẹp nhất với cái tai của tôi. Album “great Operatic Duets – Montserrat Caballé – Shirley Verrett” là 1 trong những album hiếm hoi mà tôi có thể cho 5* vì độ hoàn hảo. 2 giọng hát trong số những giọng hát đẹp nhất thế kỉ đã có 1 màn trình diễn ngoạn mục với những duet nổi tiếng nhất cho mezzo/soprano. Bản Barcarolle nổi tiếng được sử dụng ở một trong những cảnh lãng mạn và xúc động nhất của film “La vita è bella – Cuộc sống tươi đẹp”, cũng được lấy ra từ album huyền thoại này. Album không chỉ là sự kết hợp của 2 giọng hát đẹp cùng đẳng cấp – điều xuất hiện ở rất nhiều các duet album khác, mà hơn hết, sự hòa quyện hoàn hảo giữa 2 giọng hát tạo nên một cộng hưởng độc đáo, 1 “hương vị” mới cho những bản duet quen thuộc, giống như những viên kẹo sô-cô-la sữa hảo hạng nhất được làm nên từ những những nguyên liệu cao cấp nhất, hòa trộn theo một tỉ lệ cân bằng hoàn hảo nhất. Rất tiếc là Caballé và Verrett ít có dịp cộng tác với nhau sau này, nếu không Suther-Horne chắc chắn không thể trở thành cặp song ca nữ nổi tiếng duy nhất của sân khấu opera.

Khác với kiểu vị “châu âu” của Bumbry, vẻ đẹp trong âm sắc của Verret có vị “black” rất đậm, không thể trộn lẫn. Một giọng mezzo-soprano đặc quánh, đầy đam mê, gợi cảm nhưng khi cần có thể vươn tới những nốt cao ác liệt nhất ở tốc độ “bốc khói”. Không như nhiều nghệ sỹ ỷ có giọng hát đẹp sắn chỉ việc phô bày âm sắc giọng, những bản thu âm của Verrett dù là live hay studio luôn căng tràn cảm xúc và 100% nội lực từ bản thân. Điều đáng tiếc nhất ở Verrett có lẽ là cách bà xây dựng kịch mục thiếu sáng suốt cho mình, không những không phát huy thế mạnh của giọng, mà còn góp phần làm thui chột giọng hát quý giá của mình, chẳng hạn như việc bà quá tham hát các vai soprano. Ngoài Lady Macbeth,  tất cả những vai soprano còn lại như Tosca, Norma, Aida, Desdemona,… dù k0 đến mức tệ hại nhưng quá mờ nhạt và khập khiễng khi so với Caballé, Price, thậm chí là Freni hay Nilsson! Một số vai mezzo, tôi cứ nghĩ sẽ hợp với Verrett (như Công chúa Eboli hay Dalila) nhưng đến khi nghe các bản thu âm thật của bà ở những vai này lại thấy k0 hoàn toàn thỏa mãn. Cách bà đẩy kịch tính của vai diễn hơi lạ (?) và giọng hát có chút biến dạng ở những note cao và thấp nhất, có lẽ do bẩm sinh giọng của bà là trữ tình hơn là kiểu Verdian style (lady Macbeth là trường hợp ngoại lệ khó hiểu).

Tôi sẽ k0 giới thiệu lại Letter scene trong Macbeth vì đã từng nhắc đến trong 1 entry về bà trong blog này. Tôi giới thiệu ở đây 2 trích đoạn mà tôi cho là bộc lộ nhiều ưu điểm giọng hát của Verrett: khi toàn bộ quãng trung âm lộng lẫy, mịn màng của bà được thỏa sức bay lượn trong những tuyến giai điệu trữ tình, du dương.

Download:

Shirley Verrett – Belle nuit (Barcarolle) – Les Contes d’Hoffman – Jacques Offenbach. (duet with Montserrat Caballé – soprano)

Shirley Verrett – O ma lyre immortelle – Sapho – Jules Massenet.

(Còn tiếp).

Dietrich Fischer-Dieskau – The Master of Lieder

DIETRICH FISCHER-DIESKAU (Baritone)

28/05/1925 – 18/05/2012.

10h kém hôm qua , nhận được mess từ Phúc phan: Fiescher-dieskau vừa mất.

Lên Facebook đã thấy Pm của Trung Mai và status của Mr Cò.

…Ông đã 86 tuổi, ở cái tuổi này thì sự ra đi cũng đã được mọi người tiên lượng trước dù chẳng ai mong chờ. Thật chẳng biết viết gì và nói gì.

Download:

Lied: Waldesgespräch – Liederkreis op. 39, No. 03 –  Robert Schumann.

Dietrich Fischer-Dieskau (Baritone)

Christoph Eschenbach (Piano)

Recorded at Berlin-Lankwitz, Studio Siemens-Villa, in Jan 1974.

Tôi đang gần hoàn thành part 2 của serries Top20 mezzo-sopranos& contraltos. Thật trùng hợp, để lựa chọn bản thu âm điển hình giới thiệu về mezzo Christa Ludwig, tôi vừa tìm nghe lại bản Lohengrin (Rudolf Kempe chỉ huy đội hình Grummer, Thomas, Ludwig, Fischer-dieskau, Frick) – bản Lohengrin tôi yêu thích nhất. Toàn bộ màn 2, sự bùng nổ của cặp đôi Ludwig và Fischer-Dieskau như lấn át cả 2 vai chính Grummer và Thomas (phải nói thêm là Grummer là 1 trong những top fav soprano của tôi). Tôi từng nghĩ rằng Fischer-Dieskau thể hiện opera hơi khô, thiếu cá tính và theo chất oratorio hơi nhiều, kì thực tôi đã lầm . Fischer-Dieskau, giống Tito Gobbi vốn là người thông minh và rất chịu khó đào sâu vai diễn.  Điều mà tôi đã lầm tưởng chính vì giọng hát trữ tình rất sáng và đẹp (nhưng không có màu đặc biệt) của ông khiến nhiều vai diễn, nhất là với opera Verdi hơi thiếu sức nặng, độ đầy đặn về mặt âm thanh. Ông cũng không có xu hướng “sến” hóa, hoặc “tươi” hóa như H.Prey (most fav baritone của tôi) nên cách thể hiện của ông không được nhiều người yêu thích, dù rất nhiều critic đánh giá cao. Nếu bạn không nghe những bản thu âm (opera) của ông 1 cách kĩ càng, bạn sẽ thấy nó dễ dàng bị trôi tuột đi và thậm chí có thể đánh giá 1 cách phiến diện là nhạt nhẽo (như 1 sai lầm điên rồ đã từng của tôi).

Ở mảng Lieder và ca khúc thính phòng lại khác. Không 1 ai có thể nghi ngờ ngôi vị Master of Lieder của ông. Tôi chưa xem discography của ông nhưng riêng studio recording lieder của mỗi Schubert cho hãng Grammophon đã có những boxset hơn …20 đĩa! thậm chí gấp nhiều lần discography cả sự nghiệp biểu diễn của nhiều legend khác (đấy là chưa tính những composer khác, ở các label khác và các live perfs). Tôi không biết còn nghệ sỹ nào có từng ghi âm nhiều hơn ông không, nhưng quan trọng hơn, số lượng đồ sộ ấy vẫn đi kèm với chất lượng đỉnh cao. Mỗi bản thu âm đều là mẫu mực của nghệ thuật hát lieder. Với mỗi nghệ sỹ hát ca khúc, người ta chỉ có thể so sánh với Fischer-Dieskau , tỉ như chỗ này hát nhiều tình cảm hơn Fischer-Dieskau, bài kia hát bốc hơn ông, giọng này đẹp hơn ông, v.v… và v.v… Nhưng ở ông là sự cân bằng hoàn hảo, là chuẩn mực để mọi người so sánh (dù k phải lúc nào cũng có thể so sánh). Ông có sự nghiên cứu và phân tích tỉ mỉ, nghiêm cẩn từ tổng phổ đến lời thơ để có sự thấu hiểu sâu sắc nhất, chính xác nhất từ tác giả, tác phẩm điều mà với cá nhân tôi, trong số những lieder singer chỉ duy nhất E.Schwarzkopf là đạt tới (nhưng bà không có sự nghiệp ghi âm đồ sộ, cũng như sự đa dạng của Físcher-Dieskau).  Nghe các bản thu âm của ông với tôi là sự khám phá những tầng sâu của nghệ thuật hát lieder, của mỗi tác giả, ở mỗi tác phẩm, không phải là kiểu vừa nghe vừa có thể làm việc, thậm chí vừa có thể hát theo như H.Prey chẳng hạn. Chính vì thế, tôi cũng ít có thời gian nghe kĩ các bản thu âm của ông hơn (dù tôi cũng có vài chục CD của ông).  Tôi thậm chí còn từng chẳng nhớ nổi tên ông viết chính xác như thế nào, và để nhanh gọn, toàn viết tắt là F-D…

Nhưng chính Fischer-Dieskau cũng mở cho tôi những cách để tiếp cận với rất nhiều tác giả quen thuộc mà tôi vốn “khó vào”. Thật hài hước, một thời gian dài, tôi từng không hề thích bất cứ lied nào của Schumann trừ bộ “tình yêu và cuộc đời của người đàn bà” (Frauenliebe und lenben – op.42), cho đến khi một lần tình cờ ngồi bật lại album “Schumann Lieder” của DG (Fischer-Dieskau hát, Eschenbach & Demus đệm piano). OMG, Liệu tôi có thể ngô nghê, thiếu suy nghĩ đến mức dễ dàng đánh giá là Fischer-Dieskau khô khốc, thiếu cảm xúc? Ông thậm chí đôi khi còn nhiều cảm xúc hơn cả H.Prey với G.Souzay nữa, dù không thể hiện nức nở ra 1 cách dễ thấy. Hóa ra, tôi chỉ thiếu 1 đôi tai tinh tế và sự chăm chú lắng nghe kĩ càng mà thôi. Và từ đây, tôi tìm nghe lại những bản thu âm khác của ông và cả những nghệ sỹ khác để khám phá âm nhạc Schumann, Wolf, Mahler,… để tự xóa bỏ những định kiến ngớ ngẩn đã có và đang có của mình. Và không biết, đến bao giờ, tôi mới thoát khỏi cái “vũ trụ ca khúc” đấy đây…  🙂

Download: 

Lied: Ich will meine Seele tauchen – Dichterlieder Op.48, No.05 – Robert Schumann.

Lied: Und wüßten’s die Blumen, die klein – Dichterlieder Op.48, No.08 – Robert Schumann.

Dietrich Fischer-Dieskau (Baritone)

Christoph Eschenbach (Piano)

Recorded at Berlin-Lankwitz, Studio Siemens-Villa, in April 1975.

Xin gửi đến ông lòng ngưỡng mộ sâu sắc. Tài năng của ông, nghệ thuật của ông và hàng trăm bản thu âm tuyệt diệu ấy sẽ sống mãi trong lòng những người hâm mộ. R.I.P.

Figaro di Hanoi. 19/05/2012