Tài năng và nhân cách.

Mấy hôm nay  ngồi nghe lại vài bản thu âm của Di stefano nên tự dưng nổi hứng… Tôi có nhiều entry còn chưa giải quyết hết, trong số đó có cái cục gạch này.

Giuseppe di Stefano (1921 – 2008)

Giusseppe di Stefano là 1 trong những tenor tôi biết đến sớm nhất. Đó là từ bản Tosca huyền thoại nổi tiếng năm 1953 của EMI (cùng Callas, Gobbi và de Sabata). Tôi đã mua nó cùng thời kì với bản Carmen (Domingo/Migenes), Il barbiere di siviglia (Alva/Berganza/Prey/Abbado), Aida (Tebaldi/Bergonzi/Simionato/Karajan). Ấy những vở opera đầu tiên mà tôi có – toàn bộ là CD chép của VN hoặc CD Tàu lòng vàng- giá đồng hạng 10.000 vnđ/cd – mức giá tôi có thể sẵn sàng bỏ tiền ra cho việc mua CD nhạc vào thời điểm năm thứ 2 đại học, khi tôi mới bắt đầu tiếp cận opera và nhạc cổ điển. Điều bùn cười là vở Aida tôi chỉ kiếm được CD2, còn Tosca chỉ kiếm đc CD1 , CD opera hồi đó k0 hề phổ biến (sau này tôi kiếm đc CD1 của Aida ở chợ Trời nhưng CD2 của Tosca mãi tôi mới tìm được).  Số CD của tất cả 4 bộ đấy giờ đều đã hỏng, phần lớn tôi đã tìm down/mua lại để bổ sung.

Download: Dammi i colori… Recondita armonia – Tosca – Giacomo Puccini

Giuseppe di Stefano (tenor)

Melchiore Luise (baritone)

Victor De Sabata (Conductor)

Orchestra Del Teatro Alla Scala.

Recorded in August 1953.

Kể rông dài là thế, chỉ có mục đích nhấn mạnh lại cái câu: tôi biết đến Giusseppe di Stefano từ khá sớm. Thế nhưng, không phải tôi đã thích luôn. Tosca -1953 là bản thu âm đc thực hiện trong thời kì hoàng kim của giọng hát Di stefano (50s), nhưng tôi lại ấn tượng nhiều hơn với Franco Corelli, Jussi Bjorling, L.Pavarotti và P.Domingo ở cái thời kì mới nghe nhạc ấy.  Ấn tượng của tôi lúc ấy là về vấn đề nhân cách nhiều hơn là giọng hát của ông. Giuseppe di Stefano xuất hiện như một phản ví dụ điển hình trong bài học về đạo đức thầy-trò, đạo đức nghệ sỹ opera trong quyển “Giáo trình sư phạm thanh nhạc” của GS.NSND Trung Kiên – quyển sách về opera đầu tiên mà tôi đọc. Tôi k chắc chắn tất cả thông tin trong quyển giáo trình ấy là chính xác, nhưng những giai thoại về tính tình đồng bóng, thích nổi tiếng, thích được tung hô, chăm bẵm , hay kèn cựa với các prima donna (Callas, Crespin,…) khi ở đỉnh cao của sự nghiệp của di Stefano vốn đầy rẫy trong hồi kí các nghệ sỹ. Trước khi qua đời, Bjorling đã từng một lần thừa nhận rằng, Di stefano sẽ là giọng tenor xuất sắc nhất trong thế hệ nếu ông thực sự quan tâm đến sự nghiệp của mình.

Di stefano nổi tiếng và được phát hiện khá sớm ngay từ những năm 40s.  Ông từng được 1 người giáo viên tư nhận riêng về đào tạo học tại gia (Đôi khi những người giáo viên tư  tại Ý thời ấy lại nắm sâu sắc kĩ thuật hát truyền thống và có kỹ năng sư phạm xuất sắc hơn cả những giáo sư thanh nhạc tài tăng nhất của các nhạc viện danh tiếng ở Milan, Venice,… 1 truyền thống sư phạm rất thú vị của Ý là những học sinh xuất sắc thường được các giáo viên nhận về dạy riêng, sống cùng gia đình họ, và Di stefano là một trong số đó).  Xuất thân trong gia đình bình dân, sớm nổi tiếng, kiếm được nhiều tiền, Di Stefano nhiễm phải bệnh ngôi sao. Ông rũ bỏ quá khứ và phủ nhận cả người thầy thủơ hàn vi. Sự tham vọng bước đến vị trí số 1, cuộc sống hào nhoáng, phù phiếm của 1 ngôi sao quyến rũ Di stefano nhiều hơn là việc quan tâm đến giọng hát tuyệt đẹp của mình. Di stefano nhận nhiều vai nặng, vai kịch tính rồi giọng hát nhanh chóng suy tàn khi chưa đầy 40t – thời kí đáng lẽ là đỉnh cao nhất đối với mọi ca sĩ opera. Những lần xuất hiện sau này có thể khiến nhiều người hâm mộ giọng hát ông phải nhỏ lệ vì tiếc nuối.

Khi giọng hát di Stefano mới xuất hiện trên bầu trời opera, người ta như tìm thấy một chuẩn mực mới của vẻ đẹp tenor Ý.  Toti dal Monte – soprano Ý nổi tiếng trước ww2 từng nói rằng: Tôi không thể cầm được nước mắt trước giọng hát tuyệt đẹp của Di Stefano. Tôi k0 có trái tim nhạy cảm như  dal Monte, nhưng cũng đã bị ấn tượng mạnh mẽ trước những bản thu âm mono thời kì đầu của di Stefano. Giọng hát tròn đầy,  các note cao sáng rực rỡ với  âm sắc Ý truyền thống đẹp hơn tất cả những tenor Ý tài năng trong thời kỳ của ông (M.del Monaco, F. Corelli, C.Bergonzi, G.Raimondi,…). Di Stefano rõ ràng là một tài năng thực sự, thế nên tôi k0 hề bất ngờ khi những giọng tenor đẹp nhất thế hệ sau như  Pavarotti, Carreras đều tỏ ra ngưỡng mộ tài năng của Pipo dù ông chỉ đứng trên đỉnh cao trong khoảng 10 năm và chưa bao giờ thực sự ở vị trí số 1. May mắn là EMI đã kịp capture đầy đủ 10 năm vinh quang này của Di Stefano với những bản ghi âm đáng nhớ như Tosca, Rigoletto, Lucia Di Lammermoor, La Boheme, Il Trovatore (tất cả đều với Callas).

Download: La donna è mobile – Rigoletto – Giuseppe Verdi

Giuseppe di Stefano (Tenor)

Renato Cellini (Conductor)

Palacio de Bellas Artes Orchestra.

Recorded live on 22nd June 1948.

Đây là bản thu âm live năm 1948  của 1 di Stefano mới 27t . Chất lượng âm thanh tệ hại không che mờ được giọng hát tươi rói với âm sắc tuyệt đẹp và note Si kết huy hoàng, chắc nịch. Trong câu nhạc “Muta d’accento e di pensier!” (Các nàng đổi giọng, đổi cả nghĩ nghĩ suy), giống như hầu hết các lần thể hiện sau này, di Stefano thực hiện Diminuendo từ forte thành 1 note nhạc pianisimo đẹp như mộng – khả năng gần như biến mất khi Di Stefano bước vào thập niên 60. Di Stefano đã bis ngay trên sân khấu trước sự phấn khích điên cuồng của khán giả. “La donna è mobile” vốn là một aria đơn giản, không quá khó, nhưng cũng chính Stravinsky từng nhận định rằng :”Có nhiều chất lượng và sáng tạo thực sự trong aria “La dona è mobile” hơn là sự khoa trương om sòm ở “Ring” của Wagner.”  Bản thu âm này của Pipo là bản thu âm “La donna è monile” yêu thích nhất của tôi.

Download: Porquoi me réveiller? – Werther – Jules Massenet.

Giuseppe di Stefano (Tenor)

Franco Patane (Conductor)

Zurich Tonhalle Orchestra.

Recorded in 1959.

Download: Non piangere Liù – Turandot – Giacomo Puccini.

Giuseppe di Stefano (Tenor)

Franco Patane (Conductor)

Roma Orchestra dell’Accademia Nazionale di Santa Cecilia.

Recorded in 1959.

Decca sử dụng 2 bản thu âm năm 59 của ông trong hợp tuyển album 10 top tenors. Có thể coi như đây là những bản thu âm bản lề giữa 2 thời kì giọng hát của Di Stefano. Một Werther lãng mạn vơí “Pourquoi me reveiller” và 1 heroic Calaf trong “Non piangere Liu” – tác nhân làm thay đổi chất lượng giọng hát của Di Stefano. Ngay trong bản thu âm này cũng đã thấy ít nhiều sự nặng nề, mệt mỏi ở giọng hát Pipo. Nên nhớ, khi ấy Di Stefano chỉ mới 38t!

Download: Celeste Aida – Aida – Giuseppe Verdi.

Giuseppe Di Stefano (Tenor)

Bruno Bartoletti (Conductor)

Florence Maggio Musicale Orchestra.

Recorded in June 1962.

Di Stefano chỉ thực hiện 1 bản ghi âm duy nhất cho DG – 1 recital album vào năm 62 khi giọng hát đã bắt đầu giảm sút. Không thể tin nổi 1 giọng tenor mới chớm 40t mà âm sắc đã nặng nề khô cứng còn những note cao thì trơ rỗng vô hồn.

Và đến thập niên 70s, khi bước vào tuổi 50 thì những note pianissimo kì ảo ngày nào chỉ còn lại như thế này thôi…

Download: Vainement, ma bien aimée – Roi D’Ys  – Èdouard Lalo.

Giuseppe di Stefano (Tenor)

Robert Sutherland (Piano).

Recorded on 13th May 1974.

Tôi không biết nhiều con người của Stefano, cũng không có suy đoán tưởng tượng gì cả. Ông không hẳn là fav tenor của tôi, dù ít nhiều tôi cũng có những bản thu âm yêu thích với sự tham gia của ông. Cứ tạm cho những gì tôi đọc về ông là đúng đi. Cứ cho là ông k phải là một nhân cách mẫu mực đi. Nghệ sỹ vốn thường không phải là những điển hình về nhân cách cao đẹp, thậm chí họ có nhiều tính cách xấu như Ích kỷ, tham vọng, hay tự ái, không ổn định,… thế nên cũng chỉ cần nhìn nhận họ ở vai trò của họ thôi – vai trò trong nghệ thuật.

Advertisements