11 greatest voices in XX century by Figaro và 1 sự khách quan (cứ cho là) giả lập

Mềnh biết là nhiều bạn khoái các thể loại danh sách , nên sang năm mới 2011 quyết định lập ra 1 list 11 nghệ sỹ opera và thanh nhạc cổ điển xuất sắc nhất của thế kỉ 20 (theo ý kiến chủ quan), coi như là 1 tổng kết nho nhỏ sau một thời gian nghe và tìm hiểu về opera.

Danh sách đầu tiên là danh sách dựa trên tiêu chí tên tuổi, tầm ảnh hưởng , vị trí, tài năng của nghệ sỹ đối với opera và thanh nhạc cổ điển thế kỷ 20. (của tkỷ 20 vì trước đấy thì thiết bị ghi âm chưa phát triển, còn sau đấy thì còn quá sớm để đánh giá các nghệ sỹ trẻ). Đây không phải list những nghệ sỹ yêu thích vì quá nửa nghệ sỹ trong list này k0 nằm trong fav artists của tớ, danh sách fav artists sẽ giới thiệu sau. Nói túm lại là nó cũng hơi lý tính (tất nhiên đánh giá, lựa chọn vẫn có tí cảm tính, vì chẳng có cái list cá nhân nào mà không có sự  chủ quan cả). Cũng nói thêm đây là list của thời điểm hiện tại, dựa trên kiến thức và những gì tớ đã nghe trong suốt thời gian qua, còn sau này, có thể vị trí và nhân sự của list trên sẽ có ít nhiều thay đổi, nhưng đấy là chuyện của sau này… Giờ xin mời nghía qua.

1. Maria Callas (1923-1977) soprano

2. Enrico Caruso (1873-1921) tenor

3. Placido Domingo (1941) tenor

4. Feodor Chaliapin (1873 – 1938) bass

5. Joan Sutherland (1926 – 2010) soprano

6. Dietrich Fischer-Dieskau (1925) baritone

7. Kathleen Ferrier (1912-1953) contralto

8. Kristen Flagstad(1895-1962) soprano

9. Leontyne Price (1927) soprano

10. Tito Gobbi (1913-1984) baritone

11. Christa Ludwig (1928) mezzo-soprano

—————————-

1. Maria Callas (1923-1977) soprano

Tôi hoàn toàn có thể nghi ngờ sự tin cậy của bất cứ  list greatest operatic artists nào không nhắc đến Callas, thậm chí là nếu không phải ở vị trí đầu tiên. Với vinh quang gần như  chỉ nằm trong khoảng hơn chục năm (thời kì đỉnh cao nhất là1953-1964) nhưng Callas đã trở thành tượng đài vĩ đại nhất của thánh đường opera. Tôi chưa bao giờ thấy 1 nghệ sỹ nào tỏ vẻ nghi ngờ tài năng cũng như vị trí của Callas, còn những cái tên bày tỏ sự ngưỡng mộ, và thú nhận bị ảnh hưởng, thậm chí phát rồ vì Callas thì k0 kể xiết (Schwarzkopf, Sutherland, Gencer, Caballe, Pava, Sass, Bartoli, Dessay, Netrebko, Urmana,…) Mỗi thế hệ nghệ sỹ opera, người ta lại cố gắng tìm kiếm người có thể kế vị, một new Callas, nhưng chưa ai dám nghĩ đến việc thay thế Callas. Trước và sau thời kì đế chế của Callas có không ít giọng hát đẹp hơn, tài năng không kém, và thậm chí có cả người mà Callas ngưỡng mộ (như  Rosa Ponselle), nhưng không có một người nào đạt đến vị trí tối thượng như  Callas. Ngay cả những nghệ sỹ lựa chọn trong danh sách này, tôi đều lấy từ Callas làm chuẩn, keke.

Đối với riêng tôi, Callas là ca sĩ opera đầu tiên mà tôi nghe và khiến tôi đến với opera. Thú thực là không phải tôi đã bị hấp dẫn ngay, vì âm sắc giọng hát hơi quá nặng đối với taste của một đứa chưa biết gì về opera giống như tôi lúc đó, nhưng tôi đã bị ấn tượng rất mạnh và rồi dần dần bị cuốn hút. Tôi lúc ấy, không biết thế nào là một giọng hát đẹp, không biết cái aria kia, cái duet này nói về cái quái gì, không biết kĩ thuật x,y,z là cái fuckin gì, hoàn toàn là tờ giấy trắng. Kể cả gần 1 năm sau khi nghe cái collection album La Divina của Callas (album đầu tiên mà tôi có) và đã bị Callas bỏ bùa, tôi cũng còn chả hiểu aria Vissi d’arte là về gì. Callas đã bắc cái cầu đầu tiên đưa tôi đến với thế giới opera, để tôi tìm hiểu, yêu thích. “Tình yêu lớn là Caballe còn tình yêu đầu tiên là Callas” – Mr Cò đã nói về tôi như vậy trong một lần hồi box nhạc chúng tôi mới gặp gỡ nhau. Thường thì người ta chỉ nhớ đến mối tình đầu tiên và cuối cùng mà thôi.

Callas cũng là nghệ sỹ đầu tiên mà tôi viết Tiểu sử cho trang nhaccodien.info. Tôi đã đọc về Callas một cách say mê, viết một cách say mê với một cảm xúc ngây ngô đầy nhiệt tình … Bây giờ tôi không dám đọc lại bài đấy nữa, vì tôi biết là tôi đã chả hiểu gì về Callas cả. Tôi nhớ dịch giả Thúy Toàn từng thú nhận đại ý rằng nếu biết trước về Pushkin thì đã không dám dịch “Tôi yêu em” nữa, tôi k0 dám so sánh với Thúy Toàn, nhưng quả thật tôi thấy là tôi đã …liều quá.

Tôi vẫn chưa dám viết một entry về Callas, mỗi một lần nghe lại Callas lại là một xúc cảm khác, và chưa bao giờ có thể định hình lại một cách rõ nét để viết. Nhưng chắc chắn là , chưa thể đóng cửa blog này trước khi có 1 entry về Callas.

Tôi nghĩ không một vai diễn nào, kể cả Tosca, khắc họa rõ nét con người, tính cách và tài năng của Callas hơn Norma. Cái khoảnh khắc khi Callas cất giọng hát những note nhạc đầu tiên trong aria ”Casta Diva”, Callas đã tỏa sáng như 1 La Divina (nữ thần). Bản thu âm studio “Casta Diva” năm 1960 (nằm trong complete Norma thực hiện với F.Corelli, C.Ludwig dưới đũa chỉ huy của nhạc trưởng T.Serafin) là bản thu âm nổi tiếng và phổ biến nhất của Callas. Vâng,  hãy nghe đi để thấy rằng dù Sutherland tuyệt vời, Caballe tuyệt vời, Gencer tuyệt vời, Sills tuyệt vời, nhưng Norma chỉ có thể là Maria Callas.

Download: Casta Diva – Norma – Bellini

Maria Callas (Soprano)

Tullio Serafin (Conductor)

Orchestra e Coro del Teatro alla Scala

Recorded in 1960

2. Enrico Caruso (1873-1921) tenor

Vị trí thứ 2 và 3 luôn làm tôi đau đầu. Giữa Caruso và Domingo, chọn ai đây? Một người là “King of Singing”, một người là “King of Opera”… Nhưng cuối cùng tôi đã chọn Caruso.  Tôi cho rằng những gì Domingo đang làm ở sườn dốc của sự nghiệp mang ít nhiều tính thương mại và tham quyền cố vị (xin đừng bash tôi vì nhận định này).

Giống như trường hợp của Callas, mỗi tenor thế hệ sau, đều phải chịu sức ép so sánh đối với Caruso. Caruso cũng không phải một giọng hát hoàn hảo, nhưng đã trở thành một biểu tượng, một thứ như là chuẩn mực đối với một giọng tenor. Caruso là ca sĩ đầu tiên có sự nghiệp và tên tuổi rộng khắp trên toàn thế giới, là ca sĩ ngôi sao đầu tiên của kỷ nguyên ghi âm. Hình ảnh Caruso trong vai Canio đã vượt khỏi opera và trở thành một biểu tượng văn hóa. Tôi lựa chọn bản thu âm “Vesti la giubba” năm 1907 – bản thu âm nổi tiếng nhất của Caruso với aria này và cũng là trích đoạn nổi tiếng nhất của Caruso.

Download: Recitar! mentre preso dal delirio… Vesti la giubba – Pagliacci – Leoncavallo

Enrico Caruso (Tenor)

Condutor and Orchestra – Unknown

Recorded in 1907

3. Placido Domingo (1941) tenor

Tôi không muốn nói nhiều (vì đã nói quá nhiều) về Domingo. Việc ông nằm trong list này là chắc chắn, cái tôi lăn tăn chỉ là ông nằm vị trí thứ mấy thôi. Ngoài Callas ra, không một nghệ sỹ nào có tầm ảnh hưởng lớn trong opera như Domingo, cũng không một nghệ sỹ nào ở trên đỉnh trong thời gian dài như  Domingo. Cái người ta tò mò bây giờ là Domingo sẽ kết thúc sự nghiệp của mình như thế nào để xứng đáng như 1 Legend. Nếu bạn bảo nghệ sỹ yêu thích nhất của bạn là Domingo, dù có thể người ta không đánh giá cao bạn, nhưng sẽ không ai bảo bạn có gout tồi cả.

Xin phép được dùng lại bản ghi âm năm 1978  “Niun mi tema” vì đã một lần giới thiệu rồi. Ngay cả khi đã nghe lại không biết bao nhiêu lần, vẫn sởn da gà trước tiếng thét từ tận cùng đau đớn: “Desdemona! ah! morta! morta! morta!”

Download: Niun mi tema – Otello – Verdi

Placido Domingo (Tenor)

James Levine (Conductor)

National Philharmonic Orchestra

Recorded in 1978

4. Feodor Chaliapin (1873 – 1938) bass

Callas liệu có phải là acting-voice đầu tiên? Không, người đó chính là Feodor Chaliapin. Chaliapin là một trong những kịch sỹ vĩ đại nhất của nền nghệ thuật sân khấu nói chung và opera nói riêng. Cá nhân tôi cho rằng  Chaliapin là người có ảnh hưởng lớn đến trường phái thể hiện giàu tính kịch của Verismo opera. Chính ông  là người đầu tiên thay đổi thẩm mỹ thưởng thức opera của khán giả, cho khán giả thấy rằng người ta không đến nhà hát opera chỉ để nghe Hát và cũng là người đầu tiên trở thành ngôi sao opera chỉ với giọng Bass (vốn trước đây bass chỉ là những ca sĩ hát vai thứ, vai phụ). Feodor Chaliapin là cánh chim đầu đàn của nền thanh nhạc cổ điển Nga.

Vai diễn opera nổi tiếng nhất của Chaliapin là Boris Godunov với cái death scene đã trở thành một tượng đài khó thay thế. Tuy nhiên tôi chọn giới thiệu ở đây bản ghi âm nổi tiếng khác:  bài hát của gã du đãng say rượu Varlaam (cũng trong Boris Godunov) – bản ghi âm đầu tiên của Chaliapin mà tôi nghe và cho tôi một hình dung ban đầu về Chaliapin.

Download: Как во городе было во Казани (In the town of Kazan) – Boris Godunov – Mussorgsky

Feodor Chaliapin (Bass)

Rosario Bourdon (Conductor)

Orchestra – Unknown

Recorded in 1927

5. Joan Sutherland (1926 – 2010) soprano

Có thể bạn tìm thấy ít nhiều nhược điểm trong giọng hát và cách thể hiện của Sutherland, nhưng hãy thành thực đi, liệu bạn tìm được giọng hát nào có vẻ đẹp âm thanh thuần túy lộng lẫy hơn  Sutherland? Nếu nhắc đến chức năng nguyên thủy của giọng hát trong Opera thì hãy nhớ rằng Joan Sutherland là cái đỉnh cao nhất. Ngay cả Callas còn phải thốt lên rằng: “Cô ấy đã vất bỏ sự nghiệp của tôi lại phía sau 100 năm”.  Giọng hát của Sutherland là một điều kỳ diệu, nó làm bạn quên đi tính kịch trong opera, thậm chí quên đi cả âm nhạc, tất cả chỉ còn lại vẻ đẹp tuyệt đối của âm thanh giọng hát. Nhưng điều đó là ưu hay nhược điểm? Nó giúp Sutherland luôn nằm trong danh sách những ngệ sỹ opera quan trọng nhất của thế kỉ, nhưng cũng vì nó mà bà không bao giờ có thể ở vị trí đầu tiên…

La Stupenda Joan Sutherland có quá nhiều bản thu âm must have, chắc chắn tôi sẽ giới thiệu trong 1 entry gần đây. Nếu thực sự yêu thích vẻ đẹp âm thanh giọng hát thì không thể bỏ qua album huyền thoại “The art of prima donna” với  note e3 đẹp nhất trong lịch sử ghi âm (với cá nhân tôi) trong Aria/Cabaletta: Bel raggio lusinghier…Dolce pensiero (từng được giới thiệu ở đây). Giờ  xin phép đc giới thiệu 1 aria/cabaletta ít phổ biến hơn của Sutherland, aria của Odabella trong vở Atilla của Verdi. Bản thu âm năm 1963 không chỉ capture đầy đủ  những note cao đẹp lộng lẫy của Sutherland mà còn cho thấy một Sutherland kịch tính mang màu sắc Callas (ngừoi đã khích lệ Sutherland theo đuổi coloratura reprtoire) như thế nào. (Những bản thu âm tkì đầu 60s của Sutherland nghe kịch tính và rực lửa hơn hẳn những bản thu âm sau này kể cả so với những bản ghi âm aria Wagner hay Turandot)

Download: Santo di patria… Allor che i forti corrono – Attila – Verdi

Joan Sutherland (Soprano)

Richard Bonynge (Conductor)

London Symphony Orchestra

Recorded in 1963

6. Dietrich Fischer-Dieskau (1925) baritone

Tôi không biết bắt đầu về Fischer-Dieskau thế nào? và cũng không biết lựa chọn bản ghi âm nào để giới thiệu về ông : “Der Erlkönig”? “Winterreise” ? “Dichterliebe”? … F-D là một trong những nghệ sỹ thanh nhạc cổ điển ghi âm nhiều nhất. Tôi chưa từng thống kê những bản ghi âm của ông nhưng số đĩa lieder, artsongs mà tôi có của ông bằng cả số đĩa ca khúc nghệ thuật của các nghệ sỹ khác mà tôi có. Nhưng sự thật là ông chưa bao giờ là fav artist của tôi. Tôi thích giọng hát tuyệt đẹp của M.Goerne, thích cái cảm xúc ăm ắp trong cách thể hiện của H.Prey, thích cái cách hát thủ thỉ như kể chuyện và âm sắc mượt mà của G.Souzay, thích cái sự trẻ trung tươi roi rói đầy nhiệt huyết của F.Wunderlich, thích sự  sâu sắc đến bình thản của J.Baker, thích sự tỉnh táo đến mô phạm của von Otter, thích cái trong trẻo, tươi tắn của L.Popp, … F-D là tổng hợp của tất cả những điều đấy, là Master of Lieder, người ta không thể tìm được người có tầm vóc lớn hơn ông trong lieder nói riêng và artsongs nói chung trước cái sự nghiệp đồ sộ của F-D.  Nhưng tôi chưa bao giờ có thể tập trung nghe thật kỹ một tác phẩm mà ông thể hiện. Tôi thấy nặng nề. Dù rằng ông có một giọng baritone trữ tình rất sáng, đẹp và thuận tai. Ở mảng opera cũng vậy,  cá nhân tôi không thấy hấp dẫn trong cách thể hiện của ông với opera, hơi nhiều chất …oratorio. Tôi k0 tìm hiểu nhiều ở mảng này của ông nên không dám võ đoán, thôi cứ cho là không hợp taste đi vậy.

Tôi chọn ở đây một ca khúc khá dễ thương của Othmar Schoek. Ca khúc này có phần đệm piano nhí nhảnh cùng lời thơ trong trẻo như một bài thơ thiếu nhi, không phải là một hình ảnh nghiêm túc quen thuộc thường thấy của F-D

Download: Reiselied, Op. 12 No.1 – Schoek

Dietrich Fischer-Dieskau (Baritone)

Aribert Reimann (Piano)

Recorded in 1970

7. Kathleen Ferrier (1912-1953) contralto

Trước khi nghĩ đến Ferrier, tôi đã cố gắng lục tung toàn bộ trí nhớ của mình xem ngoài bà, còn giọng hát nào có thể chạm sâu hơn vào tâm hồn tôi không? Và tôi đã thất bại. Opera và thanh nhạc cổ điển đã mang lại cho tôi rất nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều lần xúc động đến rùng mình, sởn gai ốc, trước vẻ đẹp của âm nhạc, của âm thanh giọng hát con người. Nhưng với  mỗi bản thu âm của Kathleen Ferrier thì lại là những trải nghiệm với một cảm xúc hoàn toàn khác. Thứ âm nhạc đến từ giọng hát đặc biệt của bà không chỉ đọng lại ở đôi tai mà nó cứ len lỏi dần vào sâu thẳm phía bên trong và lơ lửng ở đấy. Tôi tin đấy không chỉ là cảm giác của riêng bản thân tôi mà của rất rất nhiều người khác đã tiếp xúc với những bản thu âm của bà. Ferrier không có 1 âm vực rộng, không có một âm lượng khổng lồ, không có kỹ thuật hát của 1 virtuoso, không có kỹ năng diễn xuất sân khấu nổi trội, nhưng Ferrier có nhạc cảm và 1 trái tim nghệ sỹ đủ để khiến tất cả những điều còn lại trở nên vô nghĩa. Bước vào con đường nghệ thuật rất muộn và lại sớm kết thúc bởi căn bệnh hiểm nghèo, nhưng gần như tất cả những bản thu âm Kathleen Ferrier để lại dù là live hay studio được thực hiện trong quảng thời gian ngắn ngủi ấy đều là một di sản vô giá của âm nhạc cổ điển. K.Ferrier là một trong không nhiều nghệ sỹ thanh nhạc cổ điển có thề trò chuyện với tâm hồn bạn qua âm nhạc. Tôi chọn bà không phải bởi vì bà là 1 contralto quý hiếm, cũng không phải vì bà nhận được sự kính trọng và yêu mến của nhiều thế hệ nghệ sỹ , nhạc trưởng tài danh, tôi chọn bà cũng chính bởi cái khả năng trò chuyện thiên bẩm ấy, dù bà không hẳn là một fav artist của tôi.

Kathleen Ferrier có nhiều bản ghi âm gắn với ít nhiều kỉ niệm của tôi, nhưng có lẽ tôi sẽ chia sẻ trong 1 entry riêng về bà. Ở đây tôi muốn  giới thiệu 1 bài hát dân ca – “Blow the wind southerly”.  “Ferrier đã vượt qua mọi định kiến, mọi lời chỉ trích từ phía những nhà phê bình để tiến hành ghi âm các bài hát (dân ca) này, những tác phẩm thanh nhac giản dị đến mức nhiều người coi là không có giá trị nghệ thuật…” (by PP)

Download: Blow the wind southerly – Northumbrian folk

Kathleen Ferrier (Contralto)

Reorded in 1949

8. Kristen Flagstad(1895-1962) soprano

Nếu chia miếng bánh Opera thành nhiều phần thì tôi cho rằng nó sẽ gồm 20% Wagner, 20% Verdi, 15% Mozart, 15% Verismo, 10% Belcanto và 10% Baroque và phần còn lại là những tác giả khác (10%). Verdi và Wagner luôn chiếm những khoanh lớn nhất trong opera và chắc chắn là trong bất cứ 1 list operatic voices nào cũng phải có ít nhất 1 Wagnerian voice. Cá nhân tôi dành vị trí Wagnerian voice trong cái danh sách của tôi cho Kristen Flagstad. B.Nilsson mới là most fav Wagnerian soprano của tôi, và tôi cũng rất thích Varnay, Crespin, Rysanek, Behrens, Norman, Meier, Hans Hotter, Vickers, Windgassen, Jerusalem,… nhưng tôi không thể xếp ai ở vị trí cao hơn K.Flagstad (kể cả L.Melchior hay L.Lehmann).

Được ghi nhận như là một trong những giọng hát có âm lượng lớn nhất trong lịch sử ghi âm, nhưng Flagstad chưa bao giờ cố biến opera Wagner thành bữa tiệc thịnh soạn của những note cao khổng lồ. R.Strauss dành tặng 4 ca khúc cuối cùng của mình, với những nét nhạc bay bổng tuyệt đẹp cho K.Flagstad, ông hẳn phải rất hiểu bà. Isolde của Flagstad là hình mẫu cho tiêu chuẩn một Wagnerian voice : cường độ, âm lượng của giọng hát phải xuất phát từ  tính kịch trong thứ âm nhạc kịch tính, và hơn hết Flagstad sở hữu  một trong những giọng hát tự nhiên đẹp nhất của lịch sử ghi âm.

Ở đây tôi chọn bản thu âm “Mild und Leise” của Flagstad năm 1948 – một trong vô số những bản thu âm  Liebestod xuất sắc khác đã trở thành thương hiệu riêng của Flagstad.

Download: Mild und leise – Tristan und Isolde – Wagner

Kirsten Flagstad (Soprano)

Issay Dobroven (Conductor)

Philharmonia Orchestra

Recorded in 1948

9. Leontyne Price (1927) soprano

Leontyne Price luôn được nhắc đến như là 1 trong những Verdian soprano xuất sắc nhất trong lịch sử. Khi tôi thưởng thức những bản thu âm để lại của bà, đặc biệt trong opera Verdi – composer yêu thích nhất của tôi, tôi không thể hòan toàn đồng ý với nhận định trên. Tôi thích 1 âm thanh Ý thuần chủng mượt đẹp kiểu Tebaldi, thậm chí Callas, Caballe, Cerquetti cũng cho nhiều trải nghiệm thú vị với âm nhạc Verdi hơn là Price. Tất nhiên không ai trong số những cái tên kể trên có thể hát Aida tốt hơn Price. “ Aida – một nhân vật hay Aida – opera đều có đầy đủ ý nghĩa, nỗi đau và những niềm riêng trong tôi. Trong nhiều khía canh, tôi tin rằng Aida chính là bức chân dung con người bên trong của tôi. Cô ấy chính là người bạn opera thân thiết nhất của tôi, tôi cảm nhận Aida một cách hết sức tự nhiên vì màu da tôi chính là phục trang của tôi. Sự thật hiển nhiên này mang lại cho tôi 1 cảm giác mạnh mẽ, cho phép tôi hoàn toàn tự do trong việc bộc lộ, diễn tả từng cử động cũng như việc diễn xuất mà những vai diễn opera khác không thể đem lại. Tôi luôn cảm thấy, mỗi khi thể hiện Aida, đó lại là một lần tôi bộc lộ con người bản thân tôi với tư cách là một người Mỹ, một người Phụ nữ và một Con Người.” Ngay cả khi giọng hát không ở trong điều kiện tốt nhất, Aida vẫn là của riêng Price, như cái cách bà cảm nhận Aida chính từ  “cái màu da quí phái của mình”. Tôi xin khẳng định Leontyne Price là Prima donna da đen đầu tiên và lớn nhất trong lịch sử opera. Không, tôi không quên Marian Anderson – contralto có ảnh hưởng lớn đến tất cả những ca sĩ cổ điển Mỹ-Phi sau này kể cả Price, cũng không quên những prima donna da màu xuất sắc khác như  G.Bumbry, S.Verrett, M.Arroyo, J.Norman, K.Battle,… Nhưng hãy nhìn vào sự nghiệp ghi âm cũng như biểu diễn của Price, chúng ta phải đồng ý rằng vị trí của bà là độc tôn và không thể thay thế.

Tôi không giới thiệu ở đây “Ritorna vincitor” hay “O patria mia” trong Aida – vai diễn đã đóng dấu bởi L.Price. Tôi biết đến Price lần đầu tiên cũng bằng Aida, và hi vọng bạn (một người vô tình đọc entry này và chưa một lần biết đến Price) hãy tự tìm kiếm Aida của Price để có một trải nghiệm như tôi. Tôi xin giới thiệu ở đây một trích đoạn khác mà Price cũng rất yêu thích và thường sử dụng làm encore trong các recital concert của mình –  màn chết của Cio-cio-san :  “Tu, tu piccolo Iddio! ” thu âm năm 1960 nằm trong “blue album” huyền thoại của Price, khi Price và giọng hát khàn đục tuyệt đẹp và độc đáo của mình đang ở thời kì rực rỡ nhất.

Download: Tu! Tu! piccolo Iddio! – Madama Butterfly – Puccini

Leontyne Price (Soprano)

Oliviero de Fabritiis (Conductor)

Rome Opera Orchestra

Recorded in 1960

10. Tito Gobbi (1913-1984) baritone

Những operatic baritone mà tôi yêu thích nhất là E.Bastianini, P.Lisitsyan và nhất là H.Prey – người tôi thường xuyên sử dụng làm avatar, nhưng không ai trong số đó xuất hiện trong danh sách này. Tôi đã chọn Tito Gobbi. Tôi không chắc Gobbi là 1 giọng hát đẹp hay một giọng hát vang lớn giàu kịch tính, uhm, cứ cho là âm sắc baritone hơi khê và bí của ông không hợp với taste của tôi đi vậy. Nhưng tôi nể phục tài năng của ông, nể phục cái cách mà ông khắc họa nhân vật bằng âm nhạc. Không bao giờ có những đọan phô diễn giọng, kỹ thuật vô nghĩa trong sự thể hiện của ông. Gobbi thực sự là một Callas baritone. Sẽ là một thiếu sót lớn nếu không theo dõi libreto, để ý bối cảnh cốt truyện, tính cách nhân vật khi nghe những bản thu âm của ông, để hiểu những nhấn nhá đầy chủ ý, những sáng tạo sâu sắc của ông ở mỗi nhân vật.

Thật không dễ dàng kể hết tất cả những vai diễn xuất sắc của ông mà không nhiều baritone sau này có thể chạm đến: Rigoletto, Rodrigo (Don Carlo), Iago (Otello) , Tonio (Pagliacci),… và đặc biệt là Scarpia – vai diễn đỉnh cao của Gobbi. Sẽ không một ví dụ nào tốt hơn “Te deum Scene “trong bản ghi âm Tosca huyền thoại năm 1953 (cùng Callas, di Stefano dưới đũa chỉ huy của nhạc trưởng de Sabata) – bản thu âm được nhiều nhà phê bình đánh giá là một trong những bản ghi âm opera xuất sắc nhất mọi thời đại. Một Scarpia nham hiểm , dâm đãng, đầy tham vọng với những toan tính độc ác hiện lên không thể rõ nét hơn.

Download: Tre sbirri, una carrozza … Va, Tosca – Tosca – Puccini

Tito Gobbi (Baritone)

Victor de Sabata (Conductor)

Orchestra e Coro del Teatro alla Scala

Recorded in 1953

11. Christa Ludwig (1928) mezzo-soprano

Tôi chốt hạ danh sách này bằng một cái tên mà tôi băn khoăn nhất : Christa Ludwig. Bà là một trường hợp đặc biệt, tôi có không ít bản thu âm cực kỳ yêu thích (Fidelio – Beethoven, Bluebeard’s Castle – Bartok, Das Lied Von Der Erde- Mahler,Tannhauser – Wagner…) nhưng bà chưa bao giờ nằm trong topfav mezzo của tôi. Rất khó lý giải. Tôi chưa thấy một bản thu âm nào của bà ở dưới mức khá, hầu như perfect. Ludwig gần như xuất sắc trong tất cả những mảng quan trọng nhất của mezzo từ Verdi đến Wagner, từ mozart đến belcanto, từ baroque đến ca khúc thính phòng. Thậm chí bà đủ ấn tượng và rực lửa để không biến cái hoàn hảo ấy trở nên đơn điệu, nhàm chán trong khi chưa bao giờ để cảm xúc chi phối đến mức để phô dù 1 note. Ludwig cũng là một trong những giọng hát Đức có âm sắc đẹp nhất mà tôi biết, và chắc chắn khó có mezzo-soprano gốc Đức-Áo nào có sự nghiệp ngang tầm Ludwig. Mezzo-soprano là type giọng tôi thích nhất và có đến hàng tá favmezzo, trong số đó có không ít người cả danh tiếng và tài năng đều chưa chắc đã bằng Ludwig (obukhova, dolukhanova, arkhipova, obraztsova, verrett, cossotto, baker, bartoli, garanca, … ).Với một giọng hát như vậy, một cá tính nghệ sỹ như vậy, sao tôi vẫn chưa thực sự rung động với nghệ thuật của bà. Thôi cứ coi như là do tôi và bà chưa phải duyên vậy…

Tôi giới thiệu ở đây aria của Leonore: “Komm, Hoffnung, laß den letzten Stern” nằm trong bản thu âm đỉnh cao Fidelio năm 1962 của nhạc trưởng Otto Klemperer (EMI) – Bản ghi âm Fidelio xuất sắc mọi thời đại – một viên ngọc quí giá của opera nói riêng và âm nhạc cổ điển nói chung.

Download: Komm, Hoffnung, laß den letzten Stern – Fidelio – Beethoven

Christa Ludwig (Mezzo-soprano)

Otto Klemperer (Conductor)

Philharmonia Orchestra of London

Recorded in 1962

————-

Chắc chắn không một list nào, dù cố gắng khách quan đến mấy cũng có thể thỏa mãn tất cả mọi người. Mỗi đánh giá đều dự trên những kinh nghiệm, kiến thức và cảm nhận khác nhau của mỗi người. Có thể sẽ có nhiều bạn thắc mắc;: giả dụ như Pavarotti – nghệ sỹ nổi tiếng và quan trọng nhất trong suốt gần nữa cuối thế kỷ 20 ở đâu? , rồi Rosa Ponselle – soprano duy nhất mà Callas ngưỡng mộ, nể phục, hay E.Schwarzkopf – queen off Lieder? hay Callas-bass Boris Christoff? Hay greatest black artist – Marian Anderson? hay Callas-only rival Tebaldi? Rồi tại sao không có Sills, Zeani thay vào đó Sutherland… Tại sao là con số 11? Vâng, như đã nói, tôi đang thử cố dựng một sự khách quan giả lập, khi tôi không bị sự chi phối của tình cảm yêu thích cá nhân (thế nên tôi đã rút Caballe, rút Nilsson,rút Bjorling … ra khỏi list này dù tên tuổi, tài năng họ k0 hề kém những ngời trên). Có thể lần tới tôi sẽ bắt đầu 1 list thứ 2 – list fav artist của riêng tôi, điều này sẽ dễ dàng hơn nhiều.

Khi tôi đứng ở góc độ một người đọc trước những danh sách, những đánh giá chủ quan, tôi có thể mặc sức phê bình và chê bôi, nhưng đứng vào vai trò một người đưa ra list cá nhân thì mới thấy quả là thực sự khó. Thế nên tôi cũng phải rào trước đón sau là “list này của thời điểm hiện tại”, coi nhưa chừa cho mình 1 đường rút, keke 😛 . Dù sao cũng thấy thỏa mãn ít nhiều vì đã cố gắng dám thử 1 lần. Nếu bạn nào ghé qua blog, đọc entry này, hi vọng có chút comment để cùng trao đổi, dù là đồng ý, phản đối, coi thường, ghi nhận,… Welcome!