Phía sau hàng rào sắt…

Giở lại tập BBCMM số tháng 6/2010 (mình nhẩy ở nhà lão cucsat mấy tháng trước mờ quên béng, 😛 ). Trang bìa là hình ảnh Hvo lả lướt trong chiếc áo chemise màu violet với nụ cửa nửa miệng đàng điếm. BBCMM đã dành đến tận 6 trang kín cho mục coverstory để lăng xê album mới nhất của HVO: “Pushkin songs” với hãng đĩa Delos, và đăng kèm 1 bài phỏng vấn của nhà báo Hugh Canning hé lộ nhiều chi tiết thú vị về quan điểm nghệ thuật cũng như môi trường âm nhạc giúp Hvo trưởng thành và có 1 vị trí vững chắc trên sân khấu opera hiện nay. Mềnh xin được trích dịch 1 đoạn nhỏ , mờ mình cho rằng khá hay ho khi nhắc đến nền thanh nhạc Soviet. Hvo với tài năng vượt ra ngoài Liên Xô, được phương tây đón nhận, thậm chí thổi phồng, nhưng chưa bao giờ quay lưng lại với Nga, với Liên Xô hay quá khứ khó khăn đã nâng đỡ và chắp cánh cho thành công của anh, điều này làm tôi đặc biệt ngưỡng mộ, không như nhiều ngôi sao hay huyền thoại opera gốc Liên Xô khác đã thành danh ở phương tây và trên thế giới sau này…

“Khi đề cập đến belcanto trong bối cảnh Nga, câu chuyện đã đưa đẩy chúng tôi (Canning và Hvorostovsky – YIH) đến với chủ đề về những ca sỹ đã mang lại ấn tượng mạnh mẽ với anh từ  khi anh còn sinh trưởng  trong  1 gia đình đam mê âm nhạc từ thị trấn Krashnoyarsk những năm 60s. Một khúc lược sử thanh nhạc cổ điển Nga cùng được ôn lại.

Download:

– Mikhail Glinka – A Life for the Tsar (Ivan Susanin; Zhizn’ za tsarya), opera in 4 acts with and epilogue, : Antonida’s romance (No, that is not my sorow)

Gramophone Company Orchestra

Antonina Nezhdanova (soprano)

I. P. Arkadiev (Conductor)

Recorded 1914 (Mono)

– Richard Wagner – Lohengrin, opera, WWV 75 Act III: Lohenrin’s farewell (Beloved Swan!)

Gramophone Company Orchestra

Leonid Sobinov(Tenor)

Bruno Seidler-Winkler (Conductor)

Recorded: 1910 (Mono)

– Jules Massenet  – Don Quichotte, comic opera in 5 acts Act V: Death Scene (O master, Listen my friend)

Bolshoi Theater Orchestra,

Olive Kline (soprano)

Feodor Chaliapin (bass)

Rosario Bourdon (conductor)

Recorded: 1927 (Mono)

– Chaliapin, Nezhdanova và Sobinov – những quỷ thần vĩ đại của nền thành nhạc Nga ở thời kỳ đầu của thế kỹ 20 – tất cả đều được học ở Ý”, anh nói.  “Cái “Trường phái” ấy hoàn toàn là Ý thuần khiết. Sau Cách mạng tháng 10, bức rèm sắt hạ xuống và trong 60 năm, phong cách đã hoàn toàn thay đổi thành 1 dạng mới, kiểu như mang tính chất thể hiện kịch melo cường điệu . Những giọng hát lớn như  gào thét trên sân khấu, (Pavel) Lisitsyan và Arkhipova chỉ là  ngoại lệ. Sự vĩ đại của Arkhipova chính là giọng hát kiểu Ý của bà – legato (liền mạch) và đầy tính cantilena (ngân nga) “.

Download:

– Camille Saint-Saens – Samson et Dalila, opera in 3 acts, Op. 47 Act II: Dalila’s aria (My heart opens to your voice)

Bolshoi Theater Orchestra

Irina Arkhipova (Mezzo soprano)

Vladislav Pyavko (Tenor)

Mark Ermel (Conductor)

Recorded: 1980 (Stereo)

– Pyotr Il’yich Tchaikovsky – Pique Dame (The Queen of Spades), opera, Op. 68 Scene 3: Yeletsky’s aria (I love you dear, beyond all measure)

Bolshoi Theater Orchestra

Pavel Lisitsyan (baritone)

Alexander Melik-Pashaev(Conductor)

Recorded: 1952 (Mono)

“Và đến thập niên 60 với sự cởi mở của Kruschev trong quan hệ với phương tây, một sự cộng tác bắt đầu được diễn ra giữa La Scala, Milan và Bolshoi Opera của Mátx-cơ-va. La Scala gửi những vũ công Ballet đến Bolshoi và Bolshoi gửi  những ca sỹ của họ, (Yuri) Maruzok, (Yelena) Obraztsova, (Vladimir) Atlantov tới La Scala.  Một điều thuận lợi khác của sự cởi mở này là khi tấm rèm được hé mở, một dòng thông tin mới được đổ vào từ phương tây. Tôi đã sử dụng cả ví tiền còm cõi của mình để mua những bản ghi âm opera với các ca sĩ phương tây – tất cả mọi thứ xuất bản trong thập niên 50s, 60s, 70s được phát hành ở Liên xô bởi hãng Meloydia, và một phần tương tự  cũng xảy ra với Decca, Deutsche Grammophon, EMI.  Tôi sở hữu một bộ sưu tập khổng lồ những bản ghi âm từ phương tây, tất nhiên bây giờ chủ yếu là CD. Từ đó , nó cho tôi cơ hội để được học những kịch mục opera Phương tây.”

Download:

Modest Mussorgsky  – Boris Godunov, opera (Rimsky-Korsakov edition) Act III: Marina’s aria (Marina is bored. Oh, how bored!)

Bolshoi Theater Orchestra

Yelena Obraztsova (mezzo soprano)

Mark Ermler (Conductor)

Recorded 1968 (Stereo)

– Pyotr Il’yich Tchaikovsky – Mazeppa, opera Act II: Mazeppa’s aria (O Maria! in the Winter of my life)

Bolshoi Theater Orchestra

Yuri Mazurok (baritone)

Mark Ermler (Conductor)

Recorded: 1971 (Stereo)

– Alexander Borodin – Prince Igor, opera (completed by Rimsky-Korsakov & Glazunov) Act II: Vladimir Igoryevich’s recitative and cavatina (Daylight is fading)

Bolshoi Theater Orchestra

Vladimir Atlantov (tenor)

Mark Ermler (Conductor)

Recorded: 1966 (Stereo)

Có một điều khá bất ngờ khi khám phá ra rằng Hvorostovsky, với một giọng nam trung quý phái (baritono nobile) như được đào tạo theo phong cách Ý hoàn hảo, lại là một người phần lớn là tự học. “Tôi không tin vào những giảng viên thanh nhạc”, anh giải thích ” tôi tin vào những con người có khả năng dạy tôi hoàn thiện. Nếu so sánh giữa Mỹ và Liên xô trong việc đào tạo thanh nhạc thì giống như  so sánh đêm với ngày vậy. Một sinh viên Mỹ phải kiếm tiền để trả cho giảng viên cho 1 giờ học. Trong 2 năm, nếu may mắn , người ta có thể gọi anh thử giọng. Nhưng trong hệ thống Nga, anh sẽ mất 5 năm để học tại nhạc viện. Tất cả mọi thứ đều được Liên Bang chi trả, và anh phải học cả piano, ký xướng âm, lý thuyết âm nhạc, nhạc lý.  Tôi bắt đầu được học âm nhạc từ khi tôi mới 7 tuổi, học cả piano, chỉ huy, hát hợp xướng cũng như thanh nhạc. Tôi thậm chí phải học cả accordion như một nhạc cụ thứ 2 nữa”

Anh cũng chỉ ra rằng, anh là một trong những người đầu tiên trong thế hệ được hưởng những ưu đãi từ những thuận lợi của hệ thống giáo dục Soviet và sau đó lại được tạo điều kiện xuất khẩu tài năng ra trường thế giới. Trước đây, khoảng những năm 1980 đổ về trước, chỉ duy nhất một cá nhân Liên Xô xuất chúng được ủng hộ hợp pháp của chính quyền là có sự nghiệp quốc tế lừng lấy, họ chủ yếu trưởng thành từ nhà hát opera Bolshoi, nhưng các cơ hội đã bắt đầu ào ạt đổ tới khi đoàn biểu diễn của nhà hát opera Kirov có được một chuyến viếng thăm đầy ấn tượng tới Convent Garden dưới sự dẫn dắt của nhạc trưởng Yuri Termikanov và ông đã giới thiệu một nhóm  nghệ sỹ hát tuyệt vời, trong số đó có giọng nam trung Sergei Leiferkus gây được thiện cảm với khán giả Anh quốc.  Khi ấy, Hvo ở độ tuổi đôi mươi và chuẩn bị bắt đầu cho việc cất cánh.

– Tôi đã được nhà nước Liên Bang đối xử hết sức tử tế, khi tôi dành chiến thắng trong 1 loạt các cuộc thi. Cardiff – singer of the World tất nhiên là quan trọng và có uy tín nhất. Sau đó, sự nghiệp của tôi đã bắt đầu vượt khỏi nước Nga, tôi được chuyển nhà từ Krashnoyarsk đến Matx. Tôi được cấp 1 căn hộ tại Matx như một phần thưởng cho chiến thắng tại Cardiff.  Đó là cách đối xử  điển hình của hệ thống nhà nước Soviet đối với những nhân vật gây được tiếng vang vào thời gian ấy. Boris Yeltsin , tổng thống mới của chúng tôi, còn tặng tôi 1 căn hộ ở ngay giữa trung tâm Matx ...”

Thực hiện bởi Hugh Canning – BBCMM vol18 number10 June 2010 (YIH trích dịch)

*)Đoạn chat này được thực hiện trong lúc dịch, keke:

Chibura Hakkai: kiểu xã hội chủ nghĩa
YIH: Obraztsova, Maruzok, Atlantov –> ra là các anh chị này
Chibura Hakkai: phân chia theo suất
YIH: phải chiến đấu
YIH: trầy vi tróc vảy
Chibura Hakkai: nhiều người có tài nhưng ko được xếp hạng 1
YIH: để được thành sao quốc tế
Chibura Hakkai: thì cũng chỉ ì ạch trong nước
Chibura Hakkai: 😀
YIH: ừa, :))
Chibura Hakkai: y chang Việt Nam thôi
Chibura Hakkai:
:))
YIH: Nhưng những tài năng nó xuất ra thế giới
YIH: Cũng có phải phế phẩm đâu
YIH: Toàn là A-level cả đêí.
Chibura Hakkai: suất chỉ có thế, chúng mày giết nhau mà giành giật
Chibura Hakkai: nó đã chọn
Chibura Hakkai: thì cũng phải chọn thằng hạng A chứ
Chibura Hakkai: nhưng có nhiều thằng khác cũng hạng A ko được chọn
Chibura Hakkai: nên thiệt
YIH: 😀
YIH: ah` uh
YIH: đương nhiên
YIH: 😛
YIH: thì cũng phải chọn đứa thông minh, khôn khéo , giỏi kèn cựa.
YIH: sau này ra quốc tế còn biết la liếm các nhạc trường và producer nước ngoài chứ
YIH: 😛
YIH: thế mới làm rạng danh Liên Xô được
YIH: chứ  xuất ra chỉ để làm ca sĩ hạng 2 hát phục vụ cho dân tư bản lắm tiền nghe áh?
YIH: hóa ra phí công đào tạo của “nhân dân” Liên Xô ah.
YIH: —> đầu tư k0 hiệu quả, thế thì thà biến về nước mờ phục vụ quần chúng cần lao cho xong.
YIH: Các bố ở trển tính cả rồi.
YIH: keke

<—- no comment =))

up thêm cái này của Hvo cho bà con nghe để đọc đỡ nản, romance được trích từ album thu  âm chỉ chưa đầy 1 năm sau cuộc thi Cardiff của cậu chàng , giọng vẫn còn tươi mới như … chiếc cúp pha lê cáu cạnh, keke (bản này cũng đc sử dụng cho buổi offline Hội ngộ vừa rồi)

Download:

Sergei Rachmaninov –  (Ne poj, krasavitsa, pri mne), (Bài ca Gruzia) Op. 4 No. 4

Dmitri  Hvorostovsky (baritone)

Oleg Boshniakovich (piano)

Recorded: London, July 1990

———–

Lời thơ: Alexander Pushkin (1799-1837)

Đừng hát nhé, người đẹp ơi, khi có tôi
Những bài ca Gruzia buồn bã,
Lời em hát khiến tôi nhớ quá
Quãng đời đã qua nơi bến bờ xa.

Lời em ca sao trở nên nghiệt ngã
Khi bắt tôi nhớ đến một thời
Trên thảo nguyên với những đêm trăng sáng,
Và nhạt nhòa mờ xa bóng một người.

Gặp em tôi tưởng như quên được,
Hình bóng thân yêu, số phận một thời,
Nhưng em hát và trước tôi lại hiện
Hình bóng xưa, làm sao quên, em ơi.

Đừng hát nhé, người đẹp ơi, khi có tôi
Những bài ca Gruzia buồn bã,
Lời em hát khiến tôi nhớ quá
Quãng đời đã qua nơi bến bờ xa.
(1828)
Nguyễn Quỳnh Hương (Tykva)  dịch

Advertisements