Wagner thiên thần hay ác quỉ?

Richard Wagner (Composer)

(1813-1883)

Bài viết mới tươi rói nóng hổi của mợ Mèo ngoan.  Quá hay. Dù là Mợ dịch từ nguồn nào , không quan trọng, vấn đề là …mợ đã chọn nó (ăn cắp kiểu nhận xét Duchamp, kekeee).

Trích một số đoạn thú vị cho bà con, còn bản full mời mọi người lên trang chủ của www.nhaccodien.vn hoặc tạp chí Tia sáng số mới nhất:

“Nhiều người đã thay đổi quan điểm của mình khi họ tìm thấy thêm nhiều tư liệu về nhà soạn nhạc yêu quý của họ, hoặc tên ác quỷ mà họ căm ghét. Nếu xét về thuộc tính cao nhất của nghệ sĩ, những thông tin về cuộc sống riêng tư của họ không phản ánh đúng bản chất những tác phẩm mà họ đã sáng tạo ra. Thông qua cuộc đời Wagner mà không cần giảng giải về sáng tác của ông, không cần chú tâm hoặc phân tích các phẩm của ông, bởi vì người ta thường bị hướng về những phản đề trong tinh thần của ông…. Wagner quả thật hết sức hấp dẫn: một nhà soạn nhạc gây ấn tượng sâu sắc lạ lùng nhưng cũng là một quái vật đích thực.”

“Wagner là một hỗn hợp đầy khó hiểu của tốt và xấu, của sự vĩ đại và tàn bạo, mẫu người thỉnh thoảng lại xuất hiện trong lịch sử Đức, đất nước của Immanuel Kant và Heinrich Himmler, của J.S.Bach và Walter Uilbricht, của Johann Wolfgang von Goethe và Joseph Goebbels. Tính kiêu ngạo của Wagner hoàn toàn bệnh hoạn. Nhà văn Deems Taylor đã từng viết rằng, Wagner có sự xúc động đầy kiên định của một đứa trẻ 60 tuổi. Ông hoàn toàn ngây thơ trước bất kỳ ý thức trách nhiệm nào và không có nguyên tắc nào trên mọi nẻo đường. Cosima, người vợ thứ hai của Wagner từng là vợ của một người bạn tận tâm của ông. Và trong khi Wagner cố gắng thuyết phục bà chia tay người chồng đầu tiên, ông đã viết thư cho một người đàn bà giàu có khác, người mà ông có thể lấy vì tiền… Wagner có nhiều kẻ thù, từng lăng mạ một người bạn chỉ vì bất đồng trong quan điểm về thời tiết. Ông hoàn toàn được kết luận là một kẻ còi cọc, đau ốm hay gắt gỏng nhưng lại là người đàn ông nhỏ bé đầy sức lôi cuốn của mọi thời đại. Điều gì sẽ xảy ra nếu Wagner là không phải là kẻ hay lật lọng với bạn bè của mình và những người vợ của họ? Trên thực tế, Wagner đã lừa dối những người bạn tử tế nhất của mình.”

“Sự khác biệt giữa quan điểm mỹ học, những tác phẩm bút chiến và âm nhạc, những vở kịch của Wagner khiến người ta cảm thấy hoang mang. Trong “Opera và kịch”, luận thuyết quan trọng nhất của Wagner về opera như một hình thức nghệ thuật, xuất bản năm 1951, ông đã chỉ trích hết sức khắt khe Mozart: “Có vẻ như sự nghiệp sáng tác opera của Mozart không có nhiều nét đặc biệt, cách tiếp cận và khai thác vấn đề của ông ta thiếu cẩn thận. Mozart không suy nghĩ về tính mỹ học ẩn sâu trong các vở opera, trái lại ông chỉ sáng tác dựa trên bất cứ đề tài nào bắt gặp mà không hề có ý thức về nó”. (!!! nhận xét hơi phũ, cơ mà, thực tế là mềnh cũng thấy đúng như vậy, hix – YIH)

“Wagner thường tranh cãi rất quyết liệt với các nghệ sĩ opera về việc dàn nhạc và kịch bản vẫn bị phụ thuộc vào sự trưng trổ của giọng hát như trong các vở opera của Rossini và Bellini. Wagner đã loại trừ điều đó ra khỏi Rheingold và một phần của Die Walkure. Nhưng trong Gotterdammerung, MeistersingerParisfal, với những đoạn hợp xướng đầy sức mạnh được kế thừa từ Meyerber, Wagner đã sáng tác một vở siêu grand opera kiểu Meyerber, và trong Der dliegende HollanderTanhause, Wagner thường chấm dứt các trận đánh bằng những aria đẹp tuyệt mỹ.”

“Vào năm 1873, Nietzsche đã viết cho Wagner rằng ông không còn tin tưởng bất cứ điều gì thành thật ở trong con người Wagner nữa. Cuộc tan vỡ này được ấn định chính thức vào 9 năm sau, khi Nietzsche đến nghe vở Parsifal, thứ mà ông gọi là đạo Cơ đốc được cải biên cho những người hâm mộ Wagner.  Nietzsche biết rằng Wagner là một người theo thuyết vô thần nhưng điều đó đã thay đổi hoàn toàn khi Wagner lấy Cosima. Nietzsche mặc dù có quan hệ hết sức thân thiết với Wagner nhưng vẫn cứ hoài nghi về tín ngưỡng của Cosima. Đó không còn là điều bí mật bởi Nietzsche đã biên tập rất nhiều bức thư bút chiến chống đạo Cơ đốc của Wagner. Nietzsche vốn thấu hiểu Wagner hơn bất kỳ ai, nên đã cảm nhận sự cơ hội chủ nghĩa và thiên về tín ngưỡng trong Parsifal. Wagner là người quan tâm nhiệt tình đến trạng thái tâm lý cao đạo kiểu tư sản của người Đức dành cho Chúa, Vua và đế chế. Nietzsche biết rằng đó là sự ngượng ngùng của Wagner nhằm thỏa mãn công chúng và thứ tâm lý số đông. Và đó là đoạn kết của một tình bạn đẹp. Wagner có thể sau này đã sống rất lâu nhưng Nietzsche thì nghiền ngẫm về sự thất vọng và lưu giữ phần nào sự tin tưởng về việc có khả năng đóng góp vào cuối sự nghiệp.”

“Nhiều người cho rằng, Wagner là người có trạng thái tâm lý phát xít bởi về cơ bản, tất cả những điều đó đã hiện lên một cách tự nhiên trong bộ “Ring”. Tâm lý phát xít là một sự thiên vị sức mạnh chống lại hòa bình, bạo lực chống lại hòa nhã, trả thù chống lại khoan dung; một sự ngợi ca sức mạnh và sự khinh miệt với sự yếu ớt; một sự tâng bốc sức mạnh và chế giễu những đau khổ.” (đoạn nềy hay dễ sợ  – YIH)

“Ảnh hưởng từ Weber hết sức rõ ràng nhưng phải công nhận rằng Wagner đã tỏ rõ sự vượt trội của mình, không nhà soạn nhạc nào trước ông lại có thể viết cho dàn nhạc ấn tượng hơn đến mức có thể nói rằng đó là trường phái Ấn tượng.”

“Ông đã bị lôi cuốn bởi triết lý bi quan của Arthur Schopenhauer và tìm thấy câu trả lời đầy lãng mạn từ nhà triết học này về bản chất hài hòa tự nhiên của âm nhạc (âm nhạc là giai điệu… whose text is the world – Âm nhạc là giai điệu mà lời ca của nó (giai điệu) là thế gian). Ý tưởng vĩ đại và đúng đắn của Schopenhauer đã gây ấn tượng mạnh mẽ lên tâm hồn của Wagner. Nhưng Schopenhauer còn nói, âm nhạc quan trọng hơn ca từ, mối quan hệ giữa âm nhạc và phần ca từ là một cuộc hôn phối của một vị quý tộc và kẻ hành khất. Chủ nghĩa lãng mạn Đức thường cho rằng âm nhạc chiếm vị thế tối cao trong nghệ thuật nhưng Wagner viết rằng thi ca có thể bắt nguồn từ thần thoại, rằng nhạc sĩ có thể trở thành bè bạn của nhà thơ.”

“Thơ của Wagner nổi trội ở sự điệp âm. Trọng âm của âm tiết thứ 3 thường lặp lại âm đầu của âm tiết đầu tiên hoặc thứ hai, hoặc cả hai. Wagner thường lạm dụng điều này, hy sinh phần cảm xúc và sự trong sáng, rõ ràng của ngôn ngữ, như aria “ Liebestod” (Tình yêu sự chết) của Isolde trong vở Tristan và Isolde: “In des Wonnenmeeres wogenden Schwall, In des Welt-Atems wehendem All” (tạm dịch nghĩa: Hơi thở cuộc sống của tôi đã rời xa trong hương thơm ngọt ngào, trong sự ráng sức tột đỉnh, trong tiếng vọng vang rền, trong hơi thở chung của thế gian…). Tại Festival Bayreuth lần thứ nhất vào năm 1876, Lilli Lehmann vào vai Woglinde trong Rheingold đã đem lại một niềm vui bất ngờ khi hát dòng chữ đầu tiên trong “Ring”: “Weia! Wag! Woge, du Welle, walle zur Wiege! Wagala weia! Wallala weiala weia”. Đó là vẻ đẹp vô nghĩa trong tiếng Đức hoặc bất kỳ thứ tiếng nào khác nhưng tất cả các nhà phê bình âm nhạc đều cảm thấy lâng lâng khi chìm đắm trong âm nhạc. Phần viết dàn nhạc của Wagner luôn luôn tuyệt vời, có thể trình diễn riêng biệt và không bao giờ chỉ là phần đệm trên sân khấu. Giới phê bình âm nhạc đã từng tranh cãi rất nhiều về việc sử dụng yếu tố leitmotif của Wagner. Wagner đã không sáng tạo ra nó, Monterverdi đã từng sử dụng yếu tố chủ đề được nhắc đi nhắc lại này, và sau đó là André Grétry và C.W.Gluck nhưng Wagner đã phát triển nguyên lý này với một sự phóng túng lạ lùng. Leimotif của ông không phải là sự rập khuôn kỹ thuật này một cách cứng nhắc và máy móc. Wagner sử dụng leimotif để miêu tả đặc điểm của hoàn cảnh, nhân vật, xây dựng kỹ thuật viết cho dàn nhạc. Debussy đã gọi leimotif là danh thiếp của Wagner, nhưng quả thật đôi khi Wagner đã quá lạm dụng leimotif một cách ngớ ngẩn. Khi Brunhilde rơi lệ trong màn 3 của Siegfied, motif con rồng lại xuất hiện bất ngờ. Một vài người nghĩ rằng có thể đây là vấn đề khôi hài cá nhân nhưng sự hài hước của Wagner không hề tinh tế, (kekeeeee =)) – YIH) ngoại trừ trong Meistersinger, khi ông bất ngờ gây ấn tượng cho người nghe với những sắc thái hài hước kỳ lạ (nhưng tất cả những điều về Wagner đều không thể đoán trước, cho mọi điều trong thói quen của ông, và cũng có nhiều biệt lệ). Trong khúc prelude của Gotterdammerung, chủ đề tình yêu của Siegmund và Sieglinde đã được sử dụng một cách khéo léo và đồng thời với sự hiến dâng của Brunhilde cho con ngựa 8 chân Grane, đã được sử dụng làm leimotif.”

“Khi Wagner bị yếu tố hoa mỹ, tráng lệ lôi cuốn, thứ thường xuất hiện trong các tác phẩm cuối đời, ông viết những phần âm nhạc giao hưởng tuyệt diệu của vẻ đẹp kỳ diệu của giác quan và sức mạnh cảm xúc, một trong những điều kiến bất cứ đôi mắt người nghe nào cũng phải nhắm nghiền và bị chi phối. Vấn đề của việc nghe opera của Wagner là sự đắm chìm của cảm xúc trên tất cả các nhà hát. Nếu như chúng ta tới tất cả các buổi biểu diễn opera của Wagner, chúng ta sẽ nhận biết một cách đồng thời những gì nghe được và thấy được trên sân khấu… và khoảng cách trong chúng ta.”

“Mọi nhà soạn nhạc đều cảm thấy vui mừng khi tác phẩm được trình diễn còn Wagner thì còn hơn cả thế. Wagner dù thế nào cũng là một kẻ ích kỷ nan y – Thomas Mann gọi ông là theatromaniac (một thứ tình yêu quá mức của nhà hát) – đã đòi hỏi hỏi phải trình diễn tác phẩm ở nơi linh thiêng, một đài kỷ niệm âm nhạc của ông ta, Festspielhaus tại Bayreuth, một thứ Valhalla của đế chế Đức.”

“Wagner đặc biệt coi Parsifal không phải là một vở opera mà như một “ein Bühnenweihfestspiel “ngày hội cho sự hiến dâng của sân khấu”. Wagner đã tập hợp được một dàn diễn viên ngôi sao: Hermann Winkelmann (Parsifal), Amalie Materna (Kundry), Emil Scaria (Gurnemanz), và Theodor Reichmann (Amfortas). Người được vinh dự trao trọng trách chỉ huy vở opera mang tính ngợi ca tinh thần Cơ Đốc giáo này là Hermann Levi, một người Do thái. Trong Parsifal có một nhân vật pháp sư Klingsor, người cố gắng mua chuộc các hiệp sĩ Thánh chiến. Thực sự Wagner còn là một pháp sư cao tay hơn cả Klingsor. Klingsor chỉ là một sự giễu nhại, Wagner thôi miên chúng ta bằng thứ âm nhạc đẹp kỳ diệu.

“Có thể Wagner không phải là một nhà soạn nhạc theo logic của nhiều người và theo cách đó hình ảnh của ông luôn thăng trầm bằng tình cảm của khán giả yêu âm nhạc trên khắp thế giới. R.Wagner đã đưa ra nhiều vấn đề về triết học và đạo đức, một thiên tài … Và có thể cây hỏi này không thể dễ dàng có được một câu trả lời, nhưng có một điều có thể chắc chắn. Wagner là một con người phức hợp giữa con người âm nhạc và một người đạo đức, sẽ còn gây ngạc nhiên, tò mò cho khán giả nhiều năm nữa.”
By sis Meo ngoan (nhaccodien.info)

Gà gô bon chen la liếm

 

K0 chỉ bon chen nhận 1 đống vai baritone sắp tới (Oneghin, rigoletto,…), Gà gô còn đi cổ vũ gà …nhà. Lại còn cố đú theo chân nữ hoàng vào locker room của tuyển TBN. Thật bon chen quá đê!

free counters

Hùng Vĩ!!!

Birgit Nilsson ( 1918-2005)

Trong một bài phỏng vấn Beverly Sills trước khi qua đời, cách đây 4 năm, khi bà được hỏi về sự khan hiếm các giọng ca trẻ xuất sắc trong thời đại này, Sills đã trả lời:  “…Tôi vẫn nhớ buổi diễn “Andrea Chenier” với Tebaldi, del Monaco và Bastianini.  Không, chúng ta không thể có những bản sao giống như vậy được nữa.  Nhưng tôi cũng nhớ đến một buổi diễn “Otello” với Renée Fleming, Domingo và Levine đứng trong hố nhạc. Nó không hề tệ chút nào. Nó thực sự là 1 Otello khá tròn trịa.  Nhưng chúng ta vẫn chưa thể thay thế Nilsson. Chúng ta hiện rất yếu với những giọng hát kịch tính cho opera Wagner và điều ấy quả là đáng buồn…”

Chúng ta đang có Waltraut Meier xuất sắc, đầy cá tính, Jane Eaglen tròn đầy, đa dạng, Nina Stemme ấn tượng và rất thông minh, và còn rất nhiều người khác nữa (D.Voight, E. Westbroek,…). Chúng ta không hề thiếu những Wagnerian voice tốt ở thời đại này, nhưng với tôi, chúng ta k0 thể và không bao giờ thay thế được Birgit Nilsson – một người được sinh ra để hát Wagner.

Birgit Nilsson trong vai Turandot

Nilsson từng nói: “Turandot làm tôi giàu, còn Isolde giúp tôi nổi tiếng“. Turandot đủ làm Nilsson dư  dả đến mức sau khi bà qua đời, số tài sản bà để lại đủ để lập giải thưởng “triệu đô” mang tên mình (giải thưởng có giá trị lớn nhất đến thời điểm hiện tại trong lĩnh vực biểu diễn classical music) cho những người có đóng góp lớn cho opera (và anh gà gô bảnh chọe, khéo nịnh đầm đã may mắn là người đầu tiên được đích thân Nilsson chỉ định cho giải thưởng này ). Vai Turandot – máy chém giọng kinh hoàng và là nỗi ác mộng của các soprano. Dù tổng thời gian hát trến sân khấu chưa đến 30 phút, nhưng lại toàn những note fortissimo ở quãng rất cao liên tiếp nên hiếm có sop nào kể cả true dramatic có thể giữ được nó trong vài năm liên tiếp mà k0 “bỏ vai chạy lấy… giọng”. Vậy mà Turandot đã thành thương hiệu của  Nilsson trong suốt cả sự nghiệp. Nhưng tôi cho rằng Nilsson (hay cả Dimitrova – 1 soprano nổi tiếng k kém với Turandot) k0 phải là Turandot hoàn hảo. Turandot của họ quá xa vời, chói lọi, và nổi bật 1 cách tách biệt như  cái cách mà mọi người trong box vẫn hay nói là … “cô đơn trên cao” (hé hé).  Bản thu âm “In questa reggia” (Turandot) của Nilsson tại Matx-cơ-va năm 65 nhân chuyến lưu diễn cùng La Scala tại Bolshoi cho thấy 1 note Đố vĩ đại khổng lồ chưa từng thấy trong lịch sử  ghi âm (note Đố của tenor hát cùng hoàn toàn bị upstage tan tành thành mây khói). Trường hợp khác tương tự là bản Turandot studio của RCA giữa Nilsson và Björling. Một lần chat với chị Nina cũng kể chuyện Nilsson rất kiêu hãnh phán đại ý rằng “chẳng có tenor nào đủ sức át note Đố của chị ấy khi duet mà k0 dùng tiểu xảo, vì note đố của Soprano luôn cao hơn, sáng chói hơn,…”  rồi khoe khéo chiến công upstage lão tướng Đan Mạch Helge Rosvaenge một cách đầy mỉa mai : ” trong duet của Turandot, Helge Rosvaenge (tenor kịch tính nổi tiếng trước ww2) giơ tay lên, mở rộng miệng và làm 1 động tác kịch tính như thể đang hát 1 note cao nhưng thực tế chỉ có mình tôi hát vậy mà hôm sau các bài báo vẫn viết là Helge Rosvaenge duet cùng tôi”.  Thực ra tôi nghĩ Nilsson là kiểu người hài hước, thích đùa cợt, tự nhiên k0 giữ phép tắc, chứ  bà cũng k0 phải người máu ăn thua đến mức muốn đọ sức với ông cụ ngoài 60t làm gì. Bản Turandot có vẻ như  cân sức nhất với Nilsson có lẽ là bản studio của EMI (với F.Corelli và R.Scotto) mà k biết có tiểu xảo gì của kĩ sư  ghi âm cho Corelli ko. Nhưng xét cho cùng, Nilsson chỉ nên hát Turandot đến hết phân cảnh “3 câu đố của Turandot” mà thôi.

Download:

In questa reggia  – Turandot – Giacomo Puccini

Straniero, Ascolta!…Nella Cupa Notte – Turandot – Giacomo Puccini

Birgit Nilsson (soprano)

Franco Corelli (tenor)

France Molinari-Pradelli (conductor)

Rome Opera Theater Orchestra & Chorus

Recorded in June – July1965

Birgit Nilsson trong vai Isolde

Tôi rất thích Isolde của Nilsson, đặc biệt là bản ghi âm năm 66 tại Bayreuth Festspiele với Böhm chỉ huy. Nhưng, lại thêm 1 chữ “nhưng” k0 mong muốn, đấy cũng k phải là 1 Isolde  như tôi tưởng tượng. Isolde của Nilsson không hề yêu Tristan, Isolde-Nilsson yêu … bản thân hơn. Màn hấp hối “chết vì tình” (Liebestod):  “Mild und Leise” của Isolde trở thành 1 Mad scene… rạo rực chứ chả thấy Mild (mềm mại) với Leise (dịu dàng) j` ráo trọi, keke. Cái bóng khổng lồ của Nilsson không đủ sức để che phủ tượng đài K.Flagstad vĩnh cửu thậm chí chưa chắc đã là quá rộng với đàn em W.Meier trong Tristan und Isolde. Nilsson hát Isolde thừa mãnh liệt, nhưng lại thiếu nồng nàn… Với nhiều người như thế là khó chấp nhận.

Uhm, nhưng tôi vẫn khẳng định Nilsson là fav Isolde của tôi. Tôi vẫn nhớ một trong những bài viết đầu tiên của tôi về opera từ  hồi tham gia box ncd- ttvnol (tiền thân của nhaccodien.info) cách đây 5-6 năm (và hình như bài đấy cũng có đăng lên homepage rồi đc vài site khác copy lại thì phải), đó cũng chính là 1 bài viết về Nilsson . Tôi đã nghe và cảm nhận khi mà tôi chưa có kinh nghiệm gì mấy, chưa biết nhiều, hiểu nhiều về bà, và cả về âm nhạc của Wagner nữa…

Download:

Mild und leise wie er lächelt – Tristan und Isolde – Richard Wagner

Birgit Nilsson (soprano)

Karl Böhm (conductor)

Bayreuth Festival Orchestra

Recorded in 1966

Birgit Nilsson trong vai Brünnhilde

Có thể nếu bạn đủ khắt khe để tìm được những Wagnerian voice cho riêng mình, và k0 thỏa mãn với Nilsson trong Elsa, Elisabeth, Senta, Siegliende, Isolde,… nhưng nếu bạn đã yêu thích opera của Wagner, bạn k0 thể không kiếm 1 bản thu âm của Nilsson trong bộ Ring, khuyên chân thành đấy. Brünnhilde của Nilsson là hoàn hảo tuyệt đối (cả 3 Brünnhilde). Dù là ở bản live hay studio cũng k0 thể có (“không thể” chứ k0 phải “khó có thể”) người vượt qua. Giọng hát đanh thép và sắc lạnh như  những nhát chém dứt khoát của thanh đại đao, miêu tả rõ nét và chân thực vị nữ chiến thần kiêu hãnh, đau đớn và bất hạnh. Tôi k0 có ý định bảo A.Varnay, K. Flagstad, F.Leider,G.Jones, M.Möld…  kém tài hơn hay là những Brünnhilde mờ nhạt, họ vẫn xuất sắc trong cách hiểu, cách thể hiện và sáng tạo nhân vật của riêng họ và cũng là những nghệ sỹ tuyệt vời. Nhưng Brünnhilde chỉ có thể là Nilsson mà thôi.

Tôi ko bao giờ muốn nhắc đến Nilsson như 1 cỗ máy hát, hay là 1 giọng hát chỉ nổi tiếng nhờ âm lượng khổng lồ, nếu bạn chờ đợi quá nhiều điều ấy từ giọng hát và cách thể hiện của Nilsson bạn sẽ thấy nó thật nông cạn và phù phiếm. Nghệ thuật của âm thanh giọng hát, giống như âm nhạc, có 1 sức biểu cảm rất riêng.

Nilsson đã qua đời, nhưng tiếng thét “Hojotoho” hùng vĩ  này  sẽ vẫn vang rền mãi mãi như một dấu ấn không phai mờ của 1 người nghệ sỹ rất đặc biệt mà tôi vô cùng yêu mến.

Download:

Nun zäume dein Ross, reisige Maid – Die Walküre – Richard Wagner

Recorded in October 29-November 19, 1965

Brünnhilde’s Immolation Scene: Starke Scheite schichtet mir dort – Götterdämmerung – Richard Wagner

Recorded in May 20-November 24, 1964

Birgit Nilsson (soprano)

Hans Hotter (Bass-Baritone)

George Solti (Conductor)

Wiener Philharmoniker