Tình yêu là …con chim may mắn

clover

Nhân một ngày đọc bản dịch : “L’amour est un oiseau rebelle” và “Die Forelle” của chị NA.

Con chim trong cái lied ngắn tũn này “tồ” hơn “con chim bất trị” trong aria của Carmen, và “may mắn” hơn con cá hồi (măng?) bất cẩn trong lied của Schubert.

Đôi khi “tồ” và “bất cẩn” lại hay,nhỉ.

Ein kleiner, hübscher Vogel
Georg Friedrich Daumer (1800-1875)
(fỏng từ nguyên bản tiếng Hungary)

Ein kleiner, hübscher Vogel
nahm den Flug
zum Garten hin,
da gab es Obst genug.
Wenn ich ein hübscher,
kleiner Vogel wär,
ich säumte nicht,
ich täte so wie der.
 
Leimruten-Arglist
lauert an dem Ort;
der arme Vogel
konnte nicht mehr fort.
Wenn ich ein hübscher,
kleiner Vogel wär,
ich säumte doch,
ich täte nicht wie der. 
 
Der Vogel kam
in eine schöne Hand,
da tat es ihm,
dem Glücklichen, nicht and.
Wenn ich ein hübscher,
kleiner Vogel wär,
ich säumte nicht,
ich täte doch wie der.  

(YIH xin lỗi Daumer)  

Có chú chim xinh xắn
Liệng đôi cánh tự do
Lạc vào khu vườn nhỏ
Toàn hoa trái thơm ngon.
Tớ mà là chú ta
Dại gì mà ngần ngại
Bắt chước chú, xơi ngay! 
---
Nhưng bẫy mồi trên cây
Ẩn nấp nơi chốn ấy.
Ôi chú chim tội nghiệp
Làm sao thoát được đây!
Tớ mà là chú ta
Phải cần thận kĩ càng
Không vội vàng mắc mưu. 
---
Chú chim lại rơi vào 
Đôi bàn tay mềm mại
Chẳng làm hại điều chi.
Sao may mắn thế nhỉ!
Giá tớ là chú ta
Không chần chừ gì cả
Sẽ bắt chước chú ngay! 

Download:
Lied: Ein kleiner, hübscher Vogel – trong tập Liebeslieder Waltzes, viết cho tứ ca và piano 4 tay, Op. 52, No.6 – J.Brahms

Edith Mathis – Soprano
Brigitte Fassbaender – Contralto
Peter Schreier – Tenor
Dietrich Fischer-Dieskau – Baritone
Karl Engel, Wolfgang Sawallisch – Piano

Cái này trong đĩa Brahms: Liebeslieder, Walzer, Op.52/Neue Liebeslieder, Walzer, Op.65/Drei Quartette, Op.64, mấy lần định mang cho chị NA, nhưng quên. Có thể đây là 1 lied không hợp tai với chị , và đặc biệt là với chohu (người luôn cho rằng Brahms sáng tác chơi bời mấy cái Lied ngớ ngẩn này trong thời gian nghỉ ngơi giữa các “hiệp” Symphony).

Cơ mà tớ lại có thói quen tặng những gì người ta không thích, ghét của nào trời trao của ấy.
…Và cả cho tớ nữa, một người hay bất cẩn và luôn thất bại

Khu vườn của ta

b185Victoria Ivanova (1924-2002)

Download: “Уж, ты сад” – Русская народная песня – Виктория Иванова (Uzh, ty sad (Khu vườn của ta) – Dân ca Nga – Victoria Ivanova – soprano):

Уж ты сад, ты мой сад,
Сад зелёненький,
Что так рано цветёшь,
Осыпаешься?

Ты куда, милый мой,
Собираешься?
Не во путь ли, во поход,
Во дороженьку?

Ты со всеми людьми
Распрощаешься,
А со мною молодой
Всё ругаешься.

Не ругайся, не бранись,
Скажи: “Милая, прощай!”
Скажи: “Милая, прощай,
Уезжаю в дальний край.”

Khu vườn của ta ơi
Nhà ngươi vốn xanh tươi
Cớ sao bừng nở sớm,

Để giờ khô héo rồi?

Và anh, anh yêu thương
Sửa soạn đi đâu thế?
Lên đường ra chiến trường?
Hay cất bước tha hương?

Chào từ biệt xóm làng.
Nhưng với em bé bỏng
Chắc vẫn như mọi khi
Lại những lời gắt gỏng.

Đừng mắng em, anh ơi
Hãy nói rằng: “ Tạm biệt!
Em yêu dấu của tôi,
Tôi phải đi xa rồi…”

YIH dịch

Hildegard Behrens, auf Wiedersehen!!!

Mỗi khi nghe tin 1 huyền thoại opera qua đời, lại xuất hiện 1 cảm giác đặc biệt, và tự dưng muốn nghe lại thật nhiều các bản thu âm cũ của họ. Đấy là một phản ứng tự nhiên, giống như khi M.Jackson qua đời, cơn sốt đĩa và thông tin MJ trở nên dâng cao hơn bao h hết, thậm chí là những cảm xúc quá đà như kiểu “Mai cơn Rắc sơn đã bay xa“, thế nên cũng nên thông cảm cho họ, và … cho tôi.

Sáng 19 mở yahoo nhận đc mess off của lão Cò: “Biết tin Behrens mất chưa…“, tức tốc ngồi search … Cái tò mò thực sự duy nhất lúc ấy là cái “Chiếc Nhẫn của Lehmann” sẽ về tay ai… (Câu chuyện của nó là thế này: Hồi L.Lehmann về hưu ,để ghi nhận những cống hiến của bà, nhà hát Vienna có tặng Lehmann 1 chiếc nhẫn. Lehmann thông minh lúc cuối đời đã quyết định gửi trả lại chiếc nhẫn cho nhà hát, với 1 yêu cầu trong di chúc là, chiếc nhẫn này sẽ về tay soprano xuất sắc nhất do những người đứng đầu nhà hát bỏ phiếu, và cứ thế chiếc nhẫn sẽ được người đấy chỉ định và trao cho người kế nhiệm tiếp theo. Người được nhận chiếc nhẫn chính là Rysanek – “Người ca sỹ với một ngàn gương mặt”. Đến khi Rysanek qua đời, chiếc nhẫn ấy được bà trao tặng lại cho H.Behrens. )

Đến hôm nay, mới ngồi nghe lại các bản thu âm của Behrens.
Hildegard Behrens có thể chưa xứng đáng gắn với vị trí là 1 huyền thoại opera. Từ cuối thập niên 80s đổ đi, khi opera bắt đầu dần bị thất sủng, vẫn có rất nhiều nghệ sỹ tài năng xuất hiện, nhưng k0 có nhiều người để lại được một dấu ấn thực sự mạnh mẽ, như thế hệ vàng  (trong khoảng 20-25 năm kể từ ww2). Không ai có thể thay thế Callas, cũng như không ai có thể thay thế Nilsson ở những vai nữ chính trong opera Wagner, Strauss.Nhưng sẽ thật tệ, nếu chúng ta mãi mãi chỉ có Nilsson, vì thế mới cần có G.Jones, E.Marton và nhất là H.Behrens. Behrens luôn lường trước được việc trở thành 1 Wagnerian soprano có nghĩa là sẽ bị búa rìu của các nhà fê bình, của người hâm mộ giáng xuống với sự so sánh với những Flagstad, Nilsson ở thệ hệ trước. Nhưng Behrens vẫn xuất hiện đấy tự tin. Giản dị. Khởi đầu với sự tiến cử của Karjan, và sớm xuất hiện trong 1 studio recordings Salome xuất sắc ngay từ hồi đầu 70s, và cùng với sự kì vọng của mọi người Behrens đã thản nhiên bước đến vị trí 1 trong những Wagnerian sop xuất sắc nhất của thập niên 80s.

Tất nhiên, nếu chúng ta chờ đợi 1 giọng hát sắt thép sắc lạnh với âm lượng khổng lồ khác thường như Nilsson  ở Behrens, tôi tin là chúng ta sẽ thất vọng, Thậm chí nhiều khi tôi không nghĩ Behrens là 1 giọng kịch tính nữa, đó như là 1 giọng hát gợi nhớ đến sợi dây cáp thừng, rất dẻo dai, chắc khỏe, nhưng lại mềm mại. Nó khác với kiểu 1 “giọng trữ tình to đùng” (từ của pp) như R.Crespin hay J.Kaufmann (điều khiến họ dù bản chất là giọng trữ tình có xu hướng spinto mà vẫn chiến được opera Wagner), Behrens là một “giọng kịch tính nhỏ xinh duyên dáng, và rất trữ tình”. Nghe thật có  vẻ hơi mâu thuẫn, nhưng khi tiếp xúc với các bản thu âm của Behrens, thấy thật rõ nét điều này. Chất kịch tính Đức truyền thống bẩm sinh hiển hiện rõ ràng k0 thể chối bỏ, ngay kể cả khi nghe Behrens hát những tiểu phẩm thính phòng như Lied (nên một sống người cho rằng Behrens hát Lied hơi quá nặng nề).  Nhưng lại cũng k0 thấy sức căng, và những note cao mãnh liệt xuyên thấu, hay một phút chốc nào gào thét quá đà. Đó như là một hạn chế nhiều hơn là lợi thế đối với soprano lựa chọn con đường Wagner cho mình như Behrens. Ở Behrens, Brunhilde không còn là một nữ chiến thần hùng vĩ, thần thánh như Nilsson, mà trở nên có nhiều tâm trạng và thật hơn rất nhiều. Behrens xử lý rất kĩ những đoạn trữ tình, giàu tâm trạng và chất tự sự. Cái  tươi rói ở thập niên 70 dần chuyển thành sự  chín chắn, hiểu biết và điểm đạm. Behrens k0 cố gắng xóa nhòa chất kịch tính vốn có, Behrens chỉ chăm chút nhiều hơn cho chất trữ tình trong giọng hát của mình. Behrens khác những giọng wagnerian khác ở chỗ bà không  cố phóng đại Wagner , và cũng không cố thu nhỏ Wagner, mà bà chỉ phóng đại những gì người ta bỏ qua, và thu nhỏ bớt những gì quá nhiều người nhấn mạnh. Uhm, có lẽ vì thế, một tài năng như Behrens k0 bao h tỏa sáng rực rõ được, chính bởi cái sự k0 đi đến cùng và cố gắng điều hòa cái sự mâu thuẫn đấy.

Nhưng dù sao thì Behrens vẫn là fav sop của tôi. Cái tôi thích ở Behrens nhất là việc bà tạo ra 1 thế giới khác biệt và đày cuốn hút với mỗi tác phẩm bằng tài năng của mình. Cùng với J.Norman và W.Meier, Behrens là 1 trong số ít những Wagnerian sop, tôi có thể nghe rất nhiều lần mà không thấy căng thẳng hay mệt mỏi (điều đôi khi vẫn xảy ra ngay cả với Nilsson hay Rysanek). Trong đám tang của Rysanek, Behresn đã hát “Bist du bei mir” của Bach, còn đám tang của Behrens thì sẽ là ai đây? Cầu cho là Waltraud Meier, để câu chuyện về “Chiếc Nhẫn của Lehmann” lại được tiếp tục…

Hildegard Behrens, auf Wiedersehen! Tạm biệt nhé, Hildegard Behrens!

Downloand: J.S.Bach – Bist du bei mir – aria for voice & continuo (after Gottfried Stolzel ) – BWV 508
Hildegard Behrens(soprano), David Syrus (piano)

Thù này phải trả!!!

rigThực ra chẳng có cái quái j` là thù hận ở đây cả, chỉ là tên 1 cái duet trong Rigoletto mà tớ rất thích:
Về âm nhac, Rigoletto xứng đáng là kiệt tác của Verdi, với sự cân đối trong tất cả các màn, nhiều trích đoạn hay, với một cốt truyện hấp dẫn, gây ấn tượng dựa trên kịch bản của “Nhà vua vui chơi” (Le roi s’amuse) của Hugo. Thật không khó hiểu khi Rigoletto trở thành standard repertoire của hầu hết các nhà hát opera quan trọng.

Màn 1 và màn 3 vốn có nhiều trích đoạn nổi tiếng, thường xuyên được sử dụng trong các gala, festival, concert hay các cuộc thi thanh nhạc. Ngay vào màn 1 đã có một ballad  “questa o quella” đấy hấp dẫn của Công tước, sang đến cảnh 2 đầy mùi mẫn với 1 love duet của Công tước và Gilda, rồi đc chốt hạ bằng “Gualtier Maldé! …Caro Nome” – aria hết sức mơ mộng của cô nàng Gilda. Màn cuối ngoài cái quartet nổi tiếng “Bella figlia dell’amore” thì là quả aria “La donna è mobile” của anh chàng Công tước phóng đãng, phổ biến đến nỗi nó không chỉ còn thuộc về sân khấu opera nữa mà đã đi ra ngoài thế giới âm nhạc đại chúng.

Tuy nhiên màn 2 mới thực sự là quyến rũ và kịch tính nhất và cũng là màn tớ thích nhất. Aria mở màn 2 của công tước không thực sự nổi bật, nhưng liền tiếp là caballetta “Possente amor mi chiama” đầy sôi động với note Rế giáng kết đủ sức làm toàn bộ khán giả đê mê. Khi Công tước còn đang mải cưỡng đoạt Gilda bên trong, Rigoletto ở bên ngoài thì van xin cầu cạnh, rất tội nghiệp, cực kì gây ép phê. Cảnh cuối màn 2 , của 2 bố con Rigoletto được kết bằng duet “trả thù” nổi tiếng. Ở cái duet này, các anh chị liên tiếp show hàng bằng quả Mí giáng (với Sop) và la giáng (với bar) trên nền nhạc sôi nổi, dồn dập kiểu caballetta. YIH xin giới thiệu aria và duet cuối màn 2 cho bà con thưởng thức.

Download: aria/duet : Tutte le feste al tempio – Rigoletto – Verdi
Beverly Sills(soprano), Sherill Milnes (baritone), Julius Rudel (Conductor)
Recorded in 1978-1979

Bối cảnh: Gilda rũ rượi, ê chề bước ra khỏi căn phòng, nơi cô vừa bị chính người yêu mình, công tước Mantua, cưỡng đoạt và thú nhận sự việc với Rigolleto, cha cô. Rigoletto, đau đớn, bất lực trước tình cảnh đáng thương của con gái….

GILDA
Tutte le feste al tempio
mentre pregava Iddio,
bella e fatale un giovine
offriasi al guardo mio…
se i labbri nostri tacquero,
dagl’occhi il cor, il cor parlò.
Furtivo fra le tenebre
sol ieri a me giungeva…
“Sono studente, povero, ”
commosso mi diceva,
e con ardente palpito
amor mi protestò.
Partì… il mio core aprivasi
a speme più gradita,
quando improvvisi apparvero
color che m’han rapita,
e a forza qui m’addussero
nell’ansia più crudel.
RIGOLETTO
Ah!
(da sè)
(Solo per me l’infamia
a te chiedeva, o Dio…
ch’ella potesse ascendere
quanto caduto er’io…
Ah presso del patibolo
bisogna ben l’altare!..
ma tutto ora scompare…
l’altare… si rovesciò!)
(a Gilda)
Piangi, fanciulla piangi…
GILDA
Padre!
RIGOLETTO
…scorrer, scorrer fa il pianto sul mio cor.
GILDA
Padre, in voi parla un angel
per me consolator.
RIGOLETTO
Piangi, fanciulla, usw
Compiuto pur quanto a fare mi resta…
lasciare potremo quest’aura funesta.
GILDA
Si
RIGOLETTO
(E tutto un sol giorno cangiare potè)

GILDA
Vào mỗi ngày, chốn giáo đường tôn nghiêm
Nơi con vẫn đến nguyện cầu, chăm chỉ.
Một chàng trai khôi ngô, tuấn kiệt,
Đứng ở nơi con trông thấy dễ dàng
Dù cặp môi nín lặng, chẳng cất lời,
Nhưng ánh mắt cũng nói lên bao điều trìu mến.
Âm thầm lặng lẽ, đêm qua, chàng đã đến,
Để gặp con trong buổi đầu tiên
“Ta rất nghèo và chỉ là 1 gã sinh viên”
Giọng của chàng nghe sao dịu dàng quá.
Và không chút ngại ngần, chàng bày tỏ,
Những lời yêu thương say đắm nồng nàn
Rồi chàng đi… Bỏ lại trái tim con đập rộn ràng
Chìm đắm trong những giấc mơ ngọt ngào nhất
Bỗng những kẻ lạ, từ đâu xuất hiện
Bằng vũ lực, bắt cóc con,
Mang đến nơi đây
Ôi những sợ hãi , bạo tàn, đắng cay…
RIGOLETTO
(tự than)
Ah!
Ta đã cầu xin ngài, ôi Đức Chúa
những điều ô nhục, hãy dành hết cho ta
Vì con bé cần phải được thanh trong
thay cho những bùn đen ta đã lấm.
Ôi, cần lắm, một ngôi đền linh thiêng, thanh khiết
bên cạnh cái giá treo cổ tàn nhẫn thế kia.
Nhưng giờ đây, tất cả đều đã nát tan
Ngôi đến thiêng ấy cũng không còn nữa.
(vỗ về Gilda)
Hãy cứ khóc, con yêu, khóc đi cho cạn hết…
GILDA
Cha!
RIGOLETTO
…Để nước mắt đắng cay thấm ướt ngực ta.
GILDA
Cha ơi, những thiên thần như đang an ủi con,
Từ những lời cha vỗ về, thủ thỉ.
RIGOLETTO
Hãy khóc đi, con gái yêu thương…
Rồi cha con ta sẽ cùng thoát khỏi nơi đây khốn kiếp
Khi ta xong hết những việc ở đây…
GILDA
Vâng.
RIGOLETTO
(Tất cả đã đổi thay, chỉ trong một ngày, duy nhất!)
**********

Duet: Sì, vendetta, tremenda vendetta
Bối cảnh: Rigoletto đang an ủi vỗ về con gái sau chuyện xảy ra, chợt thấy đám lính gác đang áp giải Monterone, một nạn nhân đã bị Công tước xứ Mantua làm hại. Monterone ngậm ngùi thốt lên rằng, dù Công tước đã bị nguyền rủa, nhưng ông trời vẫn không trừng phạt cho những tội lỗi xấu xa của hắn. Tình cờ nghe thấy lời than thở, lửa hận trong lòng Rigoletto chợt bốc lên…

RIGOLETTO
Sì, vendetta, tremenda vendetta
di quest’anima è solo desio…
di punirti già l’ora saffretta,
che fatale per te tuonerà.
Come fulmin scagliato da Dio,
te colpire il buffone saprà.
GILDA
O mio padre, qual gioja feroce
balenarvi ne gl’occhi vegg’io!..
RIGOLETTO
Vendetta!
GILDA
Perdonate, a noi pure una voce
di perdono dal cielo verrà.
RIGOLETTO
Vendetta!
GILDA
Perdonate,usw.,
RIGOLETTO
No!
GILDA
Perdonate,usw.,
RIGOLETTO
No!
GILDA
Mi tradiva, pur l’amo, gran Dio!
per l’ingrato ti chiedo pietà!
RIGOLETTO
Come fulmin scagliato da Dio,
te colpire il buffone saprà.
—————
RIGOLETTO
Đúng, phải trả thù, trả thù tàn khốc!
Điều duy nhất ta thèm khát bây giờ
Thời khắc trừng phạt ngươi đến rồi
Cái thời khắc cuối cùng của ngươi đó
Như lưỡi tầm sét từ cánh tay của Chúa
Tên hề này quyết quật ngã quỵ ngươi.
GILDA
Ôi cha tôi , niềm vui nào đáng sợ
Đang lóe lên trong ánh mắt của cha!
RIGOLETTO
Thù này phải trả!
GILDA
Hãy bỏ qua, cha có nghe, trên kia
Lời Chúa dạy, rằng hãy biết thứ tha
RIGOLETTO
Thù này phải trả!
GILDA
Xin hãy tha cho chàng!….
RIGOLETTO
Đừng hòng!
GILDA
Xin hãy tha cho chàng!….
RIGOLETTO
Không!
GILDA
Chàng phản bội ta, ta vẫn yêu, lậy Chúa
Xin rủ lòng thương cho kẻ bội ước kia.
RIGOLETTO
Như lưỡi tầm sét từ cánh tay của Chúa
Tên hề này quyết quật ngã quỵ ngươi.
———-
Dịch bởi Yes_Iam_here @ nhaccodien.info

Download:
1.Sì, vendetta, tremenda vendetta – Rigoletto – Verdi
Maria Callas (soprano), Tito Gobbi (baritone), Tullio Serafin (conductor)
Emi/ Recorded in September 1955
2.Sì, vendetta, tremenda vendetta – Rigoletto – Verdi
Joan Sutherland (soprano), Sherrills Milnes(baritone), Richard Bonynge (conductor)
Decca/ Recorded in June 1971

Nhan sắc…


ANNA MOFFO (1932-2006)

“Một tấm hình khỏa thân của tôi còn giúp tôi nổi tiếng hơn biết bao nhiêu năm đứng trên sân khấu opera…”Anna Moffo

Anna Moffo chưa bao giờ là giọng hát yêu thích của tôi, thế nên tôi cũng không tìm hiểu sâu sắc về bà, về con đường sự nghiệp của bà. Nhưng ai cũng biết rằng, Anna Moffo đã từng là một giọng ca trẻ đấy hứa hẹn của thập niên 50, và là một trong những phụ nữ quyến rũ nhất của sân khấu opera.
Download: Vocalise op.34, no.14 – S.Rachmaninoff – Anna Moffo (soprano),  L. Stokowski (conductor)

Moffo từng được bầu chọn là 1 trong 10 phụ nữ đẹp nhất ở Ý dù bà là người Mỹ, những tấm hình nude và những bộ phim cấp 3 nóng bỏng bà từng tham gia đã gây nên bao cuộc tranh luận trong suốt thập niên 60 và kể cả sau này về nhân cách và con người. Anna Moffo là một nữ nghệ sỹ thực thụ? hay chỉ là  1 sexbomb – 1 sex symbol – 1 entertainer của nền công nghiệp showbiz phù phiếm? Hay cả 2?


Anna Moffo là 1 giọng hát đẹp, nhưng không phải giọng hát xuất sắc, có lẽ sự nổi tiếng và được biết đến quá sớm (phần lớn vì nhan sắc) đã khiến cho giọng hát của bà k0 có được 1 bệ đỡ đủ dày là nền tảng kỹ thuật vững chắc. Ở tuổi 23, Moffo đã nhận được học bổng Fullbright để sang Ý học, và thụ giáo 1 trong những giảng viên hàng đầu thời ấy là Mercedes Llopart (người từng huấn luyện cả Tebaldi, Caballe, A.Kraus, Scotto,Cossotto….). Nhưng chỉ 1 năm sau, Moffo đã tỏa sáng quá sớm với Cio cio San (Mdm Butterfly), Amina (La Sonnambulla), Norina(Don Pasquele) Marie (La fille de regiment)… bước lên đẳng cấp ngôi sao opera thế giới, tại chính cái nôi của opera – Italia, như là 1 hiện tượng. Một soprano trẻ với giọng hát đẹp trong sáng , diễn xuất thông minh, thân hình và gương mặt tươi tắn đầy cuốn hút, liệu ai có thể từ chối….
Tôi vẫn nhớ cảm giác lần đầu tiên khi xem Moffo trong cabaletta của Amina: “Sovra il sen” (La Sonnambulla – Vai – 1956) đã phải thốt lên rằng một giọng hát như rải hoa. Moffo đã làm được quá nhiều so với độ tuổi 24 (Đa số các soprano thời ấy phải ngoài 30t mới gây dựng đc tên tuổi). Sau này  tôi được biết tới nhiều Amina xuất sắc hơn nhiều, giọng đẹp hơn nhiều như Sills, Sutherland, Caballe, Devia,… nhưng cảm giác về cô gái thôn nữ trẻ vừa có chút e lệ, thẹn thùng, vừa không dấu được niềm vui sướng tuôn tràn khi sắp được thành thân mà Moffo mang lại thật k0 dễ quên.

Moffo là một phụ nữ thông minh, và bà biết giữ vững hình ảnh của mình ngay cả khi giọng hát đã qua thời xuân sắc. Bà vẫn nhận vai khi đã vào tuổi lục tuần, thậm chí là những vai nặng so với type giọng của bà. Nhưng nhan sắc cũng như vẻ đẹp của giọng hát với Moffo chỉ còn là một thời vang bóng…

Soprano nổi tiếng Emmy Destin từng cay đắng kêu lên rằng: “chẳng có gì kinh tởm hơn một bà lão ở trên sân khấu“, tất nhiên Destin đã quá bi quan , hoặc quá cầu toàn khi nhớ về thời kì hoàng kim của mình. Một số người cũng như vậy, nên sớm rút lui khỏi sân khấu và studio ghi âm trong danh dự như Galli-Curci, như Sills,… Nhưng không phải ai cũng vậy. Erna Berger, A.Nezhdanova, Obukhova,…. ở tuổi thất thập vẫn để lại những bản thu âm gây choáng váng…
Thế còn Moffo thì sao?
La danza – G.rossini – Anna Moffo (soprano)
Không sao , vì Nàng đã từng là một người Đẹp…
(Nhân đọc một câu chuyện mà Chibura gửi, ngồi nghe lại một bản thu âm xưa cũ của Anna Moffo, mọi sự thật là trùng hợp !)

Tìm lại đc cái hình này, nghich tí.

Die Fledermaus với quả casting rất phô trương với Beverly Sills: AdeleJoan Sutherland: Rodenlina !!! (ngoài ra còn có R.Resnik, G.Campora, và dĩ nhiên là chồng Su chỉ huy)- San Diego Opera – Oct 1980.

Xào bìa

hehe, đĩa mới của bé Kauffmann:

hehe , trông bìa  rất “cua mề”, rất Tàu : Lẩy từ quả tranh “Der Wanderer über dem Nebelmeer” của Caspar David Friedrich , nói chung là k0 đỡ được. :))

Thế là bé Kaufmann đã bị Met dụ đóng Wagner, lại 1 đội hình toàn sao do bác J.Levine cầm trịch: Bryn Terfel as Wotan, Deborah Voigt, Katarina Dalayman as Brünnhilde, Ben Heppner as Siegfried, Jonas Kaufmann as Siegmund, and Eva-Maria Westbroek as Sieglinde.

Tiếc là, dường như Nina Stemme k0 đc Met ưu ái nhỉ, chỉ bám đc mỗi Senta.

http://www.metoperafamily.org/metopera/season/subscriptions/ring/ringcycle2012.aspx

Bonus: (không liên quan): F.Shubert – Der Wanderer an den Mond – H.Prey (baritone)