My top 20 favourite Mezzo-sopranos & Contraltos – Part 2

Tròn 1 tháng sau part 1 mới hoàn thành xong part 2, cứ đà này thì không biết là bao giờ mới kết thúc cái serries bài giời ơi này. :D

Để thực hiện serries bài này, tôi đã ngồi nghe lại hàng chục bản ghi âm của nhiều nghệ sỹ , không chỉ là những nghệ sỹ đã , đang và sẽ được giới thiệu ở đây. Rất nhiều người đã lâu tôi không nghe lại, rất nhiều tác phẩm đã lâu tôi không động đến, liệu nó có mang lại cảm xúc cho tôi như lần đầu tiên nghe không? Liệu tôi có bỏ quên 1 ai không? Cũng chỉ là 1 cuộc chơi thôi, gọi là “chém gió” trên mạng cho vui, sao phải nghiêm trọng thế, cấu toàn thế làm gì? Thực ra ở đây, tôi muốn ghi lại những cảm xúc chân thực nhất, chính xác nhất về những gì mà âm nhạc và những người nghệ sỹ đa mang lại cho tôi, hơn là việc liệt kê, thống kê 1 cách vô hồn 1 cái list nghệ sỹ nào đó. Nó chính là lý do ban đầu khiến tôi mở ra blog này. Và tất nhiên, giống mọi người, tôi muốn được chia sẻ, dù có thể bạn đồng ý hay không đồng ý với ý kiến nào của tôi, dù có  thể nghệ sỹ bạn yêu thích có hay không có trong list này, đứng ở vị trí cao hay thấp… Welcome! ;)

Giống như p.1, phần lớn các nghệ sỹ tôi đều giới thiệu 2 bản thu âm với các phong cách khác nhau. Một sẽ là thế mạnh của họ, còn lại là 1 tác phẩm đến từ quốc gia nơi họ sinh ra, hoặc 1 trích đoạn ít phổ biến, một phong cách ít được biết đến của người đó. Ở part 2 này, tôi cũng muốn dành chút nhận xét, so sánh, lý giải vì sao tôi đánh giá họ cao hơn hay thấp hơn người khác hoặc tại sao có những biến động nho nhỏ so với danh sách dự kiến ban đầu của tôi.

Nhưng có những thay đổi không còn kịp nữa. Như người đầu tiên trong part 2 này, tôi ước giá như có thể tăng lên vài bậc…

 07.Christa Ludwig(1928~) – German mezzo-soprano

  “Legato, phải luôn legato – đấy chính là những gì Karajan đã truyền đạt cho tôi…” Christa Ludwig đã nhấn mạnh điều đó trong 1 masterclass do bà hướng dẫn. Đương nhiên bà cũng tuân thủ 1 cách nghiêm ngặt nó (legato) đến mức dường như rất khó thấy 1 khoảng trống bất hợp lý nào trong mỗi câu nhạc mà bà đã từng hát và thu âm xuyên suốt sự nghiệp của mình.

Tôi phải cảm ơn cái loạt bài này, vì nhờ nó tôi mới khám phá lại hoàn toàn Ludwig, một nghệ sỹ mà đến bây giờ tôi có thể khẳng định rằng: bà là hình dung đầy đủ và toàn diện nhất về giọng mezzo-soprano. Tôi không hiểu vì sao trước đây tôi lại có thể hờ hững với C.Ludwig đến vậy? Ngồi nghe lại Lohengrin (EMI/ R.Kempe – Grummer/Thomas/Ludwig/Fischer-Dieskau), toàn bộ màn 2 và đặc biệt là scene cuối màn 3, Ludwig đã “thổi bay” tôi hoàn toàn.  Bà đã cho tôi thấy một Wagnerian mezzo phải như thế nào. Điên loạn , kích động, thống lãnh cả dàn hợp xướng và dàn nhạc bằng âm thanh giọng hát màu mỡ và cá tính mãnh liệt. Một trường hợp đặc biệt lạ lùng khi có một giọng hát chính xác, lý trí kiểu Đức nhưng vẫn mang những xúc cảm mạnh mẽ và ấn tượng.

Tôi chưa từng thấy 1 mezzo nào đa dạng và “chịu chơi” như Ludwig. Repertoire của bà trải dài từ Bach, Handel qua Mozart, Rossini đến Wagner, Verdi,… thậm chí kể cả những tác giả Avant-garde, hầu như tất thảy đều xuất sắc. Không như một số nghệ sỹ khác, dù cố gắng hát nhiều loại vai, nhưng luôn lộ những điểm yếu nhất định như người thì chạy note vụng, người thì không có giọng dầy khoẻ ấn tượng, người thì không hiểu phong cách âm nhạc,… Ludwig thì khác, cái gì bà cũng xơi ngon lành, làm đến nơi đến chốn, chất lừ. Nếu nghe bà hát bel canto, những note hoa mĩ chuẩn xác, mạch lạc hẳn khiến nhiều người nghĩ Berganza hay Horne sẽ có 1 đối thủ đáng gờm, còn các đàn em Lammore, von Stade, Garanca thì tha hồ ngước nhìn trân trối. Với Verdi thì mạnh mẽ, khoẻ khoắn chẳng kém Simionato hay Cossotto là bao (Ortrude còn chiến được ngon lành thế thì xá gì Công chúa xứ Eboli hay Lady Mcbeth). Ở địa hạt  lieder và ca khúc thính phòng, ngoài Baker, tôi không hề nghĩ đến 1 mezzo nào có thể so sánh. (Tôi thích Baker hơn một phần do taste; do âm sắc của Baker gần với taste của tôi hơn, chứ không phải Baker giọng đẹp hơn Ludwig, nó giống như tôi thích Tebaldi hơn Cerquetti, thích Obraztsova hơn Cossotto vậy). Có thể với Schubert, Schumann, Mahler, tôi ít nhiều tìm được người này người kia hay hơn, nhưng riêng với Brahms, tôi bị chinh phục bởi Ludwig hoàn toàn. Tôi nghĩ giá như tôi có thể đem cả cái album Brahms của bà lên đây. Lần đầu tiên tôi nghe Ludwig hát Brahms, tôi mới thấy lied của Brahms hấp dẫn đến vậy.

Tôi cũng hiểu ra điều mà khiến tôi từng ít quan tâm đến bà trước đây, chính là bà nhiều khi hơi giấu cá tính của mình đi và tôn trọng âm nhạc quá, (trừ Ortrude và Fidelio, rất hiếm khi thấy bà vượt giới hạn giọng hát). Thêm nữa là tuy giọng rất đẹp, nhưng âm sắc Ludwig lại hơi thiếu cái “gia vị mạnh” độc đáo riêng (kiểu âm sắc lạ như B.Fassbaender chẳng hạn) và âm khu thấp cũng không quá đầy đặn, xuất chúng, nên k0 dễ nhận ra. Điều cuối cùng là 1 lí do rất chủ quan,trước đây tôi nghe nhiều các tác giả Ý hơn là Đức (vốn là thế mạnh của Ludwig). Nhưng đấy là trước đây thôi, dù sao thì Ludwig với tôi bây giờ vẫn luôn là một trong những nghệ sỹ tuyệt vời nhất của thời kì hậu chiến WW2.

Download:

Christa Ludwig – Fahr heim! Fahr heim, du stolzer Helde – Lohengrin – Richard Wagner.

Christa Ludwig – Mädchenlied op.107, No.05- Johannes Brahms.

08. Marilyn Horne (1934~) – US. mezzo-soprano/contralto.

  Không có gì phải nghi ngờ khả năng chạy note, trang trí note và sự thấu hiểu âm nhạc Bel canto 1 cách sâu sắc của Horne. Chính bà, chứ không phải Berganza, là người đầu tiên được Rossini Foundation trao giải thưởng “Golden Plaque” với danh hiệu “la più grande cantante Rossini” (ca sĩ hát Rossini vĩ đại nhất thế giới). Nhưng điều tôi thấy thích thú nhất ở bà, cho đến bây h vẫn là ở giọng hát ấm, muợt tuyệt đẹp với âm sắc hơi pha mũi cực kỳ đặc trưng của bà. Horne không phải người hát Dalila xuất sắc nhất, nhưng kể từ sau khi nghe bà hát”Mon coeur s’ouvre a ta voix” , tôi thấy ai hát aria này cũng hết sức thô lậu, kể cả Obraztsova. Cái âm sắc đặc biệt đấy gần như rất ít thay đổi trong suốt hơn 20 năm sự nghiệp chói lọi, kể từ khi Horne quyết định rời bỏ các vai soprano để chuyển sang các repertoire mezzo/contralto. Từ những bản thu âm thời kì đỉnh cao những năm 60s cho đến khi đã bước vào cuối thập niên 80, giọng hát vàng ròng của Horne luôn giữ được chất lượng hảo hạng, ngọt ngào và vô cùng quyến rũ.

Về kỹ thuật Bel canto, Horne nhỉnh hơn Berganza một chút, âm vực cũng rộng hơn (lúc mới nghe, tôi ấn tượng mạnh với Horne hơn), nhưng theo thời gian tôi thấy Horne đôi lúc hơi lạm dụng kĩ thuật coloratura, điểm note trang trí nên thiếu sự duyên dáng, tinh sạch như Berganza. Tôi nhớ chính Rossini sau khi nghe prima donna A.Patti biểu diễn xong 1 aria của ông với 1 cadenza và rất nhiều note hoa mĩ ấn tượng do bà sáng tạo, đã nhận xét đại ý rằng :”Cô hát hay đấy, nhưng ấy không phải nhạc của tôi”. Tuy vậy, rất mâu thuẫn, tôi lại giới thiệu ở đây “una voce poco fa” – 1 trong những aria mẫu mực Bel canto của Rossini! Dù gì thì gì, điểm mạnh của Horne vẫn là ở các Bel canto repertoirs.  Phần cadenza phía sau aria mà Horne sử dụng khá lạ (có lẽ là cadenza viết cho Malibran, Viardot hoặc 1 contralto nổi tiếng thời trước nào đấy) và nó đc thể hiện 1 cách hoàn toàn kiểm soát  cùng 1 tiếng cười khẽ, rất nghịch ngợm ở cuối bài, nó đem lại cho tôi nhiều ngạc nhiên thú vị.

Download:

Marilyn Horne  – Una voce poco fa – Il barbiere di Siviglia – Gioachino Rossini.

Marilyn Horne – I bought me a cat – Old American Songs set – Aaron Copland (Arr.)

09. Nadezhda Obukhova (1886-1961) – Russian/Soviet mezzo-soprano.

 Liên Xô – đất nước mà tôi cho là “cái túi mezzo-soprano của thế giới” đã sinh ra ko biết bao nhiêu  dramatic mezzo kiệt xuất, khiến phương tây choáng ngợp như Sofia Preobrazhenkaya, Irina Arkhipova, Elena Obraztsova, Irina Bogachyova và gần đây nhất là Olga Borodina. Nhưng những giọng mezzo trữ tình độc đáo như Nadezhda Obukhova thì đã biến mất không còn dấu vết,  sau sự ra đi của Zara Doulukhanova. Zara Dolukhanova đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ kế thừa ngôi vị của Obukhova, nhưng giọng hát quý phái, thanh tao của bà dường như chỉ là bức chân dung xanh xao, mờ ảo trước 1 Obukhova quá vĩ đại mà thôi.

Nadezhda Obukhova là 1 trong tứ trụ của nhà hát danh tiếng Bolshoi Opera (cùng với bass F.Chaliapin, sop A.Nezhdanova, tenor L.Sobinov – cũng là 4 gương mặt lớn nhất của nền thanh nhạc cổ điển Nga). Cuộc đời nghệ thuật của bà gắn liền với lịch sử thăng trầm của Liên Xô thời kì đầu, và chứa nhiều ẩn số khó giải đáp với không ít học giả phương tây. Họ k0 hiểu bằng cách nào mà 1 nghệ sỹ vốn xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản trong 1 gia đình nghệ thuật danh giá như vậy (Cụ nội của bà là nhà thơ lớn, bạn thân của Puskin, ông nội là nghệ sỹ piano, cũng là bạn của nhà soạn nhạc A.Rubinstein, và nhiều người trong gia đình là ca sĩ opera có tên tuổi của Bolshoi, bản thân bà cũng trải qua một tuổi thơ đầm ấm trong nhung lụa), lại có thể phát triển được 1 sự nghiệp huy hoàng như thế tại 1 đất nước cộng sản. Một bí ẩn khác là dù được có sự nghiệp lừng lẫy như vậy, nhưng ko hiểu vì sao cho đến tận năm 1937 (năm bà đươc phong tặng danh hiệu NSND Liên Xô), khi đã ngoài 50 , bà mới có những bản ghi âm đầu tiên (bà khi ấy mới “được mời” hay mới “đồng ý” chịu thu thanh?). Phần lớn các bản ghi âm để lại của Obukhova được thực hiện khi bà đã 60t, thậm chí là 70. Nhưng khi nghe lại, tất cả chúng ta hoàn toàn bất ngờ trước một thứ âm sắc Nga truyền thống đậm đặc, nhưng lại đẹp một cách thanh nhã, tinh khiết và tươi mát như những giọng hát bằng phân nửa tuổi của bà. Obukhova từng được học với Eleanora Lipman (1 học trò của mezzo Tây Ban Nha huyền thoại Pauline Viardot), nhưng người thầy có ảnh hướng lớn nhất đến bà là vị trưởng khoa nhạc viện Mátx-cơ-va, nhà sư phạm thanh nhạc lỗi lạc người Ý Umberto Massetti (người từng đào tạo nên những ca sĩ tài năng hàng đầu như B.Gigli, T.Schippa, R.Stracciari, A.Nezhdanova, N.Koshet và V.Barsova), điều này lý giải cho chúng ta vì sao bà có 1 giọng hát legato rất Ý, kĩ thuật chuẩn mực và tuổi thọ giọng lại kéo dài khác thường như thế.

Kịch mục chủ yếu của Obukhova là những vai chính và thứ trong Opera Nga như Pauline (The Queen of Spades), Lyubasha (The Tsar’s Bride), Konchakovna (Prince Igor), Marfa (Khovanshchina),… Tuy nhiên bà cũng không bỏ qua những vai mezzo chuẩn mực như Carmen , Charlotte (Wether), Dalila (Samson et Dalila),… Tôi gần như bị “dừng hình” khi lần đầu tiên nghe bản “Printemps qui commence” (hát bằng tiếng Nga) của bà. Một giọng hát legato mềm mại, nồng ấm, nuột nà như tan chảy trong mỗi câu nhạc, khiến bạn không thể dừng nghe dù chất lượng ghi âm hạn chế, dàn nhạc chơi rất tầm thường và cách hát của bà khác hẳn những ca sĩ thế hệ sau. Bà hát Carmen tuy không có khí chất phóng đãng, bốc lửa, mê hoặc nhưng tràn đầy tự do, phóng khoáng và sự nữ tính gợi cho tôi đến Victorya de los Angeles trong ghi âm Carmen danh tiếng của EMI.

Nhưng Romance và những bản dân ca Nga mới là thế mạnh tuyêt đối của Obukhova. Khi gần bước vào tuổi 60, bà quyết định rời bỏ sân khấu Opera, chỉ tập trung vào mảng ca khúc, và nhanh chóng trở thành “Queen of Russian Romance”. Trong suốt hơn 100 năm lịch sử ghi âm, có rất, rất ít nghệ sỹ có được cái khả năng kể chuyện cho người nghe bằng âm nhạc tài tình như vậy, Obukhova là 1 trong số hiếm hoi đó. Dù chẳng thể hiểu lời nhưng hãy thử bình tâm, thả lỏng người, để lắng nghe những bài dân ca buồn bã như những lời tâm sự giản dị, chân thành của 1 tâm hồn sâu sắc, hồn hậu, không thể Nga hơn. Nó là thứ cảm xúc ta chỉ thấy một đôi lần, ví như khi nghe Marian Anderson hát Spirituals hay Kathleen Ferrier hát dân ca Anh mà thôi.

Chúng ta cần biết rằng, Obukhova cùng với Nezhdanova là những người đầu tiên hát trên làn sóng phát thanh của chính quyền Soviet non trẻ ngay sau khi CM tháng 10 thành công. Bà là một nghệ sỹ được chính quyền ưu ái, các thế hệ nghệ sỹ nể trọng và nhân dân yêu mến, điều mà những tài năng thanh nhạc Nga khác cùng thời kỳ như N.Koshets hay O.Slobodskaya không may mắn có được, phải lưu lạc và phát triển sự nghiệp tại phương tây trong thời cuộc biến động của lịch sử. Sở hữu một sự nghiệp ấn tượng tại Liên Xô như vậy, nhưng Nadezhda Obukhova không được nhiều người yêu nhạc phương tây biết đến, những bản thu âm của bà phần lớn chỉ còn được quan tâm bởi một số ít critics và những nhà sưu tầm chuyên nghiệp. Thông tin về bà không nhiều lại chủ yếu bằng tiếng Nga, điều đó khiến tôi muốn giới thiệu nhiều hơn một chút so với những nghệ sỹ đã quá phổ biến với mọi người. Tôi từng xếp Obukhova ở vị trí thứ 11 trong top20 của tôi, nhưng sau khi nghe một loạt các bản thu âm của bà, tôi đã không ngần ngại nhấc bà vào top10. Thậm chí nếu được nghe những bản thu âm sớm hơn, ở thời kì vàng son của sự nghiệp, có khi bà còn có một vị trí cao hơn nữa trong tôi nữa , biết đâu ? Cứ cho là tôi có gout tồi đi, nhưng bạn thử nghe một lần xem, giọng hát tài năng này thật sự rất đáng đuợc ghi nhận.

Download:

Nadezhda Obukhova – Matushka, Chto Vo Pole Pylno (Mother, it is dusty in the field) – Russian Folksong.

Nadezhda Obukhova – Marfa’s song – Khovanshchina – Modest Mussorgsky.

10. Giulietta Simionato (1910-2010) – Italian mezzo-soprano.

  Giới thiệu nhiều về Simionato liệu có là thừa quá không? Simionato nắm giữ toàn bộ những vai mezzo Ý quan trọng trong suốt thập niên 50s ở  tất cả các nhà hát tên tuổi nhất và các dự án ghi âm hoành tráng nhất của Decca, điều mà những đối thủ truyền kiếp của bà, mezzo F.Barbieri không thể làm được. Một nghệ sỹ nhận được sự tin tưởng và tôn trọng của cả 2 prima donna hàng đầu là Maria Callas và Renata Tebaldi thì khó có thể là 1 nghệ sỹ tầm thường, kém cỏi được. Nhưng phần lớn những bản ghi âm studio của Decca đều cho một hình dung khá nhợt nhạt về bà, dù âm sắc giọng hát của bà khá ăn mic . Vậy được ghi âm nhiều như Simionato liệu có là một lợi thế? Những note thấp của Simionato rõ ràng không tệ như cách mà Barbieri miêu tả, nhưng ở các Verdi roles (chiếm phần lớn trong sự nghiệp ghi âm cho Decca của bà) so với Barbieri hay thậm chí là các đàn em Cossotto hay Obraztsova, thì có phần kém sắc hơn nhiều. Tôi không biết bà có phải kiểu nghệ sỹ bị “khớp” phòng thu như Rysanek, Nilsson hay Crespin không, nhưng những bản thu âm live  hay những bản thu âm mono của hãng thu âm Ý ít tên tuổi Cetra cho ta thấy 1 Simionato khác hẳn: sống động, khá máu lửa và kỹ thuật màu sắc cực kỳ chắc chắn.

Sống trong thời kì mà chính Simionato cũng tự thú nhận là có quá nhiều những mezzo/contralto Ý xuất sắc như Gianna Pederzini, Ebe Stignani, Cloe Emo,… thật khó để tạo dựng một sự nghiệp ra tấm ra món. Tuy nhiên may mắn dù đến muộn nhưng vẫn mỉm cười với bà. Sau những năm tháng làm nền cho Stignani tại La Scala, Simionato đã có buổi diễn gây tiếng vang với Mignon của Thomas (1947). Simionato được dịp khoe âm vực rộng và kĩ thuật hát nhuần nhị của mình. Tiếp theo đó là những repertoirs nổi tiếng của Rossini. Nên nhớ rằng, khi C.Supervía qua đời, mấy năm sau, những vai Bel canto  mới được Stignani khai phá với khán giả trở lại và  sau đó mới được tiếp tục phát triển bởi Simionato, vì phần lớn giới ca sĩ Ý lúc ấy còn mải chìm đắm trong trường pháiVerismo. Nhiều color mezzo nổi tiếng sau này từng tham dự những khóa bồi dưỡng của Simionato về bel canto, điều đó chứng tỏ Simiosnato là mắt xích rất quan trọng tiếp nối cho một thế hệ Rossinian mezzo kế cận rực rỡ, khỏe khoắn và tràn trề năng lượng. Sẽ thật không bằng khi so sánh kỹ thuật màu sắc của bà với những những mezzo chuyên Bel canto thế hệ sau như Horne hay Berganza, nhưng nếu nghe Norma, Anna Bolena (live với Callas – giọng bà cũng rất match với giọng Callas!) , La Favorita hay thậm chí là những aria Rossini của Rosina, Isabela, Angela,… chắc bạn sẽ phải bất ngờ về kỹ thuật chạy note, những note cao sung mãn và đặc biệt là khả năng diễn xuất bằng giọng hát của bà. (Recommend CD trong series “Lebendige Vergangenheit” hơn là những bản ghi âm studio của Decca). Nghe bà hát Mignon bạn sẽ hiểu vì sao, bỗng chốc bà thoát phận lềnh bềnh “con sông con nước” để trở nên vụt sáng thành sao như thế.

Tuy nhiên phụ thuộc vào taste của khán giả ở thập niên này, Simionato không có điều kiện phát triển thế mạnh của mình ở những repertoire Bel canto mà phải tập trung chủ yếu vào Verdi, Verismo. Ơn trời là tất cả vẫn suôn sẻ. Nếu như ở bản ghi âm Premiére của vở Cavaleria Rusticana (P.Mascagni), bà mới chỉ được phân đóng 1 vai siêu phụ (mama Lucia) với vài câu nhạc trong cả vở thì chẳng bao lâu sau, bà đã khiến cho chính Mascagni phải thú nhận rằng : “Tôi vốn viết Santuzza dành cho soprano, mà nghe cô hát xong tôi nghĩ nó phải dành cho mezzo mới đúng”.  Tôi không quá ấn tượng với Azucena, công chúa Eboli hay Amneris của Simionato, nhưng cách bà hát Verismo quả là có nhiều khác biệt với kiểu cố tình kịch tính hóa giọng mình như những dramatic mezzo sau này…

Download:

Giulietta Simionato – Io conosco un garzoncel (Sung in Italian) – Mignon – Ambroise Thomas.

Giulietta Simionato – Voi lo sapete, o mamma – Cavalleria rusticana – Pietro Mascagni.

11. Conchita Supervía (1895-1936) – Spanish mezzo-soprano.

  Tôi phải thú nhận rằng, so với những nghệ sỹ đã giới thiệu ở trên, Supervía là người tôi nghe ít nhất. Ngoài 1 vài bản ghi âm của bà trong các album tổng hợp, collections, tôi thực sự chỉ mới biết đến bà trong cặp album “Supervia in opera and song” của hãng Nimbus trong serries Prima voce. (Bạn nào muốn tìm hiểu về những nghệ sỹ thời kì tiền WW2 thì không thể bỏ qua serries này, khuyên chân thành. Các bản ghi âm cũ từ những năm 1900 nhưng được thu trực tiếp từ đĩa 78 vòng, remaster cẩn thận, ít noise, chất lượng âm thanh khá ổn và booklet cũng nhiều thông tin thú vị).  Tôi không nghe nhiều những nghệ sỹ trước ww2, bạn sẽ thấy, phần lớn những nghệ sỹ tôi yêu thích đều thuộc vào thập niên 50-80, khi giọng hát của họ không bị che phủ bởi những hạn chế của kĩ thuật ghi âm. Tuy vậy, cũng có một vài trường hợp đặc biệt có thể kể ra như E.Caruso, T.Schipa, A.Galli-Curci, C.Muzio, E.Schumann, A.Nezhdanova,  R.Ponselle, T.Ruffo, F.Chaliapin, E.Berger, N.Obukhova, E.Stignani, E.Schumann-heink … những nghệ sỹ thế hệ trước mà tôi ít nhiều quan tâm, yêu thích và không bị ảnh hưởng bởi những bản ghi âm mono cũ kĩ. Tất nhiên  Conchita Supervía cũng là một trong số đó.

Trong kỷ nguyên “golden age of singing”, không thiếu những vocal miracles, Supervía vẫn nổi lên như 1 trong những gương mặt mezzo sáng giá nhất của thế hệ. Cái chết oan nghiệt năm bà mới 41t, khi đang ở trên đỉnh cao,  không làm mờ đi vị trí và sức ảnh hưởng của bà với nhiều mezzo tên tuổi sau này. Bà không chỉ sở hữu kĩ thuật coloratura xuất chúng đến khó tin, nắm lòng những vai mezzo khó nhằn nhất của Rossini, quan trọng hơn, ở bất cứ bản thu âm nào, bà cũng thể hiện cá tính riêng 1 cách cực kỳ rõ nét. Nét duyên của Berganza, kĩ thuật khủng của Horne và chất phóng khoáng tự nhiên của Bartoli, tất cả đều có trong Conchita Supervía. Tôi tiếc là không được nghe full complete Carmen của bà (toàn bộ Cd2 của boxset “Supervia in opera and song” là những trích đoạn quan trọng trong Carmen). Là một phụ nữ Tây Ban Nha sinh ra ở giữa xứ sở Catalan , bà thể hiện vô cùng sinh động 1 Carmen rất Bohemian: kiêu hãnh, nhiều màu sắc, khó nắm bắt chứ không khai thác quá đà khía cạnh nhục dục của nhân vật. Cách thể hiện rất gần với hình tượng Carmen khá thành công sau này của Berganza, nhưng lại đậm cá tính và nét hơn hẳn.

Vị trí thứ 11 trong top20fav này phản ảnh sự thiếu quan tâm khách quan  của tôi với sự nghiệp biểu diễn và ghi âm của Conchita Supervía hơn là tài năng và vị trí thực sự của bà – mezzo soprano xuất sắc nhất của thời kì tiền WW2.

Download:

Conchita Supervía – Les tringles des sistres tintaient (Chanson bohème) – Carmen – Goerge Bizet.

Conchita Supervía – Clavelitos – Joaquín Valverde.

12. Shirley Verrett (1931-2010) – US. Mezzo-soprano/soprano.

  Sau đêm diễn Macbeth 1975 tại La Scala, những nhà phê bình khó tính nhất ở Milan đã gọi Shirley Verrett là “La Nera Callas” (Callas da đen). 1 năm sau cùng với đội hình trong mơ (Domingo/Cappuccilli/Ghiaurov do Abbado chỉ huy), Verrett đã để lại bản ghi âm để đời với với vai diễn đã làm nên tên tuổi cho mình Lady Macbeth (Macbeth-Verdi). Trừ phi bạn là người quá thần tượng 1 ai đó, còn một cách khách quan nhất, tôi chưa thấy 1 ai hát Lady Macbeth tuyệt đỉnh như Verrett.  Với 1 bệ phóng như thế, tài năng như thế và giọng hát tuyệt đẹp như thế, Verrett dù rất được trọng vọng, nhưng thật khó hiểu, chưa bao giờ Verrett được nhìn nhận là 1 trong những nghệ sỹ top class. Ngay cả so với người đồng hương da đen Grace Bumbry – tên tuổi của Verrett cũng khiêm tốn hơn nhiều, chứ đừng nói đến những Ludwig, Baker, Cossotto, Obraztsova hay thậm chí là Agnes Baltsa.  Ngoại trừ các bản complete opera mà bà tham gia (đa phần là vai thứ), cho đến khi bà qua đời, rất hiếm các ghi âm của bà xuất hiện trên thị trường, trừ album “Shirley Verrett – in Opera”. (cũng may là sau khi bà mất, Sony có tái bản lại 1 số recital album của bà).

Tuy nhiên vị trí của nghệ sỹ trong làng nhạc không hề có giá trị với sự yêu thích cá nhân của tôi, Shirley Verret không chỉ là một trong những nghệ sỹ da đen tôi yêu thích nhất (chỉ sau Marian Anderson và Leontyn Price), mà còn là một trong những giọng mezzo có âm sắc đẹp nhất với cái tai của tôi. Album “great Operatic Duets – Montserrat Caballé – Shirley Verrett” là 1 trong những album hiếm hoi mà tôi có thể cho 5* vì độ hoàn hảo. 2 giọng hát trong số những giọng hát đẹp nhất thế kỉ đã có 1 màn trình diễn ngoạn mục với những duet nổi tiếng nhất cho mezzo/soprano. Bản Barcarolle nổi tiếng được sử dụng ở một trong những cảnh lãng mạn và xúc động nhất của film “La vita è bella – Cuộc sống tươi đẹp”, cũng được lấy ra từ album huyền thoại này. Album không chỉ là sự kết hợp của 2 giọng hát đẹp cùng đẳng cấp – điều xuất hiện ở rất nhiều các duet album khác, mà hơn hết, sự hòa quyện hoàn hảo giữa 2 giọng hát tạo nên một cộng hưởng độc đáo, 1 “hương vị” mới cho những bản duet quen thuộc, giống như những viên kẹo sô-cô-la sữa hảo hạng nhất được làm nên từ những những nguyên liệu cao cấp nhất, hòa trộn theo một tỉ lệ cân bằng hoàn hảo nhất. Rất tiếc là Caballé và Verrett ít có dịp cộng tác với nhau sau này, nếu không Suther-Horne chắc chắn không thể trở thành cặp song ca nữ nổi tiếng duy nhất của sân khấu opera.

Khác với kiểu vị “châu âu” của Bumbry, vẻ đẹp trong âm sắc của Verret có vị “black” rất đậm, không thể trộn lẫn. Một giọng mezzo-soprano đặc quánh, đầy đam mê, gợi cảm nhưng khi cần có thể vươn tới những nốt cao ác liệt nhất ở tốc độ “bốc khói”. Không như nhiều nghệ sỹ ỷ có giọng hát đẹp sắn chỉ việc phô bày âm sắc giọng, những bản thu âm của Verrett dù là live hay studio luôn căng tràn cảm xúc và 100% nội lực từ bản thân. Điều đáng tiếc nhất ở Verrett có lẽ là cách bà xây dựng kịch mục thiếu sáng suốt cho mình, không những không phát huy thế mạnh của giọng, mà còn góp phần làm thui chột giọng hát quý giá của mình, chẳng hạn như việc bà quá tham hát các vai soprano. Ngoài Lady Macbeth,  tất cả những vai soprano còn lại như Tosca, Norma, Aida, Desdemona,… dù k0 đến mức tệ hại nhưng quá mờ nhạt và khập khiễng khi so với Caballé, Price, thậm chí là Freni hay Nilsson! Một số vai mezzo, tôi cứ nghĩ sẽ hợp với Verrett (như Công chúa Eboli hay Dalila) nhưng đến khi nghe các bản thu âm thật của bà ở những vai này lại thấy k0 hoàn toàn thỏa mãn. Cách bà đẩy kịch tính của vai diễn hơi lạ (?) và giọng hát có chút biến dạng ở những note cao và thấp nhất, có lẽ do bẩm sinh giọng của bà là trữ tình hơn là kiểu Verdian style (lady Macbeth là trường hợp ngoại lệ khó hiểu).

Tôi sẽ k0 giới thiệu lại Letter scene trong Macbeth vì đã từng nhắc đến trong 1 entry về bà trong blog này. Tôi giới thiệu ở đây 2 trích đoạn mà tôi cho là bộc lộ nhiều ưu điểm giọng hát của Verrett: khi toàn bộ quãng trung âm lộng lẫy, mịn màng của bà được thỏa sức bay lượn trong những tuyến giai điệu trữ tình, du dương.

Download:

Shirley Verrett – Belle nuit (Barcarolle) – Les Contes d’Hoffman – Jacques Offenbach. (duet with Montserrat Caballé – soprano)

Shirley Verrett - O ma lyre immortelle – Sapho – Jules Massenet.

(Còn tiếp).

Dietrich Fischer-Dieskau – The Master of Lieder

DIETRICH FISCHER-DIESKAU (Baritone)

28/05/1925 – 18/05/2012.

10h kém hôm qua , nhận được mess từ Phúc phan: Fiescher-dieskau vừa mất.

Lên Facebook đã thấy Pm của Trung Mai và status của Mr Cò.

…Ông đã 86 tuổi, ở cái tuổi này thì sự ra đi cũng đã được mọi người tiên lượng trước dù chẳng ai mong chờ. Thật chẳng biết viết gì và nói gì.

Download:

Lied: Waldesgespräch – Liederkreis op. 39, No. 03 -  Robert Schumann.

Dietrich Fischer-Dieskau (Baritone)

Christoph Eschenbach (Piano)

Recorded at Berlin-Lankwitz, Studio Siemens-Villa, in Jan 1974.

Tôi đang gần hoàn thành part 2 của serries Top20 mezzo-sopranos& contraltos. Thật trùng hợp, để lựa chọn bản thu âm điển hình giới thiệu về mezzo Christa Ludwig, tôi vừa tìm nghe lại bản Lohengrin (Rudolf Kempe chỉ huy đội hình Grummer, Thomas, Ludwig, Fischer-dieskau, Frick) – bản Lohengrin tôi yêu thích nhất. Toàn bộ màn 2, sự bùng nổ của cặp đôi Ludwig và Fischer-Dieskau như lấn át cả 2 vai chính Grummer và Thomas (phải nói thêm là Grummer là 1 trong những top fav soprano của tôi). Tôi từng nghĩ rằng Fischer-Dieskau thể hiện opera hơi khô, thiếu cá tính và theo chất oratorio hơi nhiều, kì thực tôi đã lầm . Fischer-Dieskau, giống Tito Gobbi vốn là người thông minh và rất chịu khó đào sâu vai diễn.  Điều mà tôi đã lầm tưởng chính vì giọng hát trữ tình rất sáng và đẹp (nhưng không có màu đặc biệt) của ông khiến nhiều vai diễn, nhất là với opera Verdi hơi thiếu sức nặng, độ đầy đặn về mặt âm thanh. Ông cũng không có xu hướng “sến” hóa, hoặc “tươi” hóa như H.Prey (most fav baritone của tôi) nên cách thể hiện của ông không được nhiều người yêu thích, dù rất nhiều critic đánh giá cao. Nếu bạn không nghe những bản thu âm (opera) của ông 1 cách kĩ càng, bạn sẽ thấy nó dễ dàng bị trôi tuột đi và thậm chí có thể đánh giá 1 cách phiến diện là nhạt nhẽo (như 1 sai lầm điên rồ đã từng của tôi).

Ở mảng Lieder và ca khúc thính phòng lại khác. Không 1 ai có thể nghi ngờ ngôi vị Master of Lieder của ông. Tôi chưa xem discography của ông nhưng riêng studio recording lieder của mỗi Schubert cho hãng Grammophon đã có những boxset hơn …20 đĩa! thậm chí gấp nhiều lần discography cả sự nghiệp biểu diễn của nhiều legend khác (đấy là chưa tính những composer khác, ở các label khác và các live perfs). Tôi không biết còn nghệ sỹ nào có từng ghi âm nhiều hơn ông không, nhưng quan trọng hơn, số lượng đồ sộ ấy vẫn đi kèm với chất lượng đỉnh cao. Mỗi bản thu âm đều là mẫu mực của nghệ thuật hát lieder. Với mỗi nghệ sỹ hát ca khúc, người ta chỉ có thể so sánh với Fischer-Dieskau , tỉ như chỗ này hát nhiều tình cảm hơn Fischer-Dieskau, bài kia hát bốc hơn ông, giọng này đẹp hơn ông, v.v… và v.v… Nhưng ở ông là sự cân bằng hoàn hảo, là chuẩn mực để mọi người so sánh (dù k phải lúc nào cũng có thể so sánh). Ông có sự nghiên cứu và phân tích tỉ mỉ, nghiêm cẩn từ tổng phổ đến lời thơ để có sự thấu hiểu sâu sắc nhất, chính xác nhất từ tác giả, tác phẩm điều mà với cá nhân tôi, trong số những lieder singer chỉ duy nhất E.Schwarzkopf là đạt tới (nhưng bà không có sự nghiệp ghi âm đồ sộ, cũng như sự đa dạng của Físcher-Dieskau).  Nghe các bản thu âm của ông với tôi là sự khám phá những tầng sâu của nghệ thuật hát lieder, của mỗi tác giả, ở mỗi tác phẩm, không phải là kiểu vừa nghe vừa có thể làm việc, thậm chí vừa có thể hát theo như H.Prey chẳng hạn. Chính vì thế, tôi cũng ít có thời gian nghe kĩ các bản thu âm của ông hơn (dù tôi cũng có vài chục CD của ông).  Tôi thậm chí còn từng chẳng nhớ nổi tên ông viết chính xác như thế nào, và để nhanh gọn, toàn viết tắt là F-D…

Nhưng chính Fischer-Dieskau cũng mở cho tôi những cách để tiếp cận với rất nhiều tác giả quen thuộc mà tôi vốn “khó vào”. Thật hài hước, một thời gian dài, tôi từng không hề thích bất cứ lied nào của Schumann trừ bộ “tình yêu và cuộc đời của người đàn bà” (Frauenliebe und lenben – op.42), cho đến khi một lần tình cờ ngồi bật lại album “Schumann Lieder” của DG (Fischer-Dieskau hát, Eschenbach & Demus đệm piano). OMG, Liệu tôi có thể ngô nghê, thiếu suy nghĩ đến mức dễ dàng đánh giá là Fischer-Dieskau khô khốc, thiếu cảm xúc? Ông thậm chí đôi khi còn nhiều cảm xúc hơn cả H.Prey với G.Souzay nữa, dù không thể hiện nức nở ra 1 cách dễ thấy. Hóa ra, tôi chỉ thiếu 1 đôi tai tinh tế và sự chăm chú lắng nghe kĩ càng mà thôi. Và từ đây, tôi tìm nghe lại những bản thu âm khác của ông và cả những nghệ sỹ khác để khám phá âm nhạc Schumann, Wolf, Mahler,… để tự xóa bỏ những định kiến ngớ ngẩn đã có và đang có của mình. Và không biết, đến bao giờ, tôi mới thoát khỏi cái “vũ trụ ca khúc” đấy đây…  :)

Download: 

Lied: Ich will meine Seele tauchen – Dichterlieder Op.48, No.05 – Robert Schumann.

Lied: Und wüßten’s die Blumen, die klein – Dichterlieder Op.48, No.08 – Robert Schumann.

Dietrich Fischer-Dieskau (Baritone)

Christoph Eschenbach (Piano)

Recorded at Berlin-Lankwitz, Studio Siemens-Villa, in April 1975.

Xin gửi đến ông lòng ngưỡng mộ sâu sắc. Tài năng của ông, nghệ thuật của ông và hàng trăm bản thu âm tuyệt diệu ấy sẽ sống mãi trong lòng những người hâm mộ. R.I.P.

Figaro di Hanoi. 19/05/2012

My top 20 favourite Mezzo-sopranos & Contraltos – Part 1

  Đã lâu lắm rồi chưa viết 1 entry tử tế. Nhân một dịp rất giời ơi từ 1 status trên fb, ngồi làm 1 list các nghệ sỹ giọng mezzo và contralto yêu thích nhất của mềnh, và có cơ hội nghe lại 1 đống đĩa đã phủi bụi mà từ lâu không động vào…

  Tôi đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại rằng, trong các loại giọng chính của thanh nhạc cổ điển, mezzo là loại giọng tôi thích nhất. Đó là loại giọng của sự nổi loạn, say mê và quyến rũ. Các vai diễn quan trọng cho mezzo dù là vai chinh hay thứ cũng là những vai cá tính, giàu màu sắc, được tô đậm hơn so với những vai diễn chính của soprano. Các nhân vật vai mezzo trải qua hầu hết những tâm trạng, cảm xúc mãnh liệt của người đàn bà từ những đức tính tốt đẹp đến những góc tối xấu xa bên trong, từ 1 Carmen nổi loạn, đam mê, 1 Azucena u tối, 1 Công chúa Eboli ghen tuông mù quáng, đến 1 Isabella thông minh, cổ quái, 1 Preziosilla đầy nhiệt huyết dũng mãnh hay cả những vai trouser-role (vai giả nam) thú vị và độc đáo. Bản thân những ca sĩ mezzo cũng là những phụ nữ cá tính và cuộc đời nghệ thuật của họ luôn xuất hiện những câu chuyện huyền thoại hấp dẫn phía sau cánh gà.

  Ngược lại, những nghệ sỹ contralto lại là những nghệ sỹ rất bình lặng, họ không có gì ngoài giọng hát quí hiếm độc đáo của họ. Số giọng nữ trầm thực sự để lại tên tuổi hầu như rất ít và số người đi vào lịch sử có lẽ chỉ đếm được trên đầu ngón tay của 1 bàn tay. Vì vậy phần lớn các mezzo, nhất là mezzo kịch tính thường phong phú bản thân bằng cách cố đẩy các repertoire của mình xuống các vai contralto, và các contralto cũng thêm vào những vai diễn mezzo-soprano cho đa dạng ngoài những alto repertoire thường chỉ phổ biến trong âm nhạc baroque.

  Cho đến khi nghe lại các bản thu âm của nghệ sỹ mezzo-soprano và contralto, để nhặt ra những nghệ sỹ mang lại cho mình nhiều cảm xúc nhất, rồi việc cố khuôn vào cái khuôn top 10, 15, 20 hay bao nhiêu đấy quả là 1 việc k0 hề dễ dàng vì mỗi người đều có 1 sự nghiệp khổng lồ, đều sở hữu 1 tài năng lớn và giọng hát độc đáo, khác biệt. Nhưng nó cũng đem lại những trại nghiệm thú vị, khi ngồi nghe kĩ lại từng đĩa CD, từng album nhạc để lựa chọn những bản thu âm điển hình. Việc phân tích cảm xúc của chính bản thân là không tưởng, có lúc những nghệ sỹ tôi yêu thích nhất cũng làm tôi vô cùng mệt mỏi, ngược lại, những người vốn nằm trong top unfav lại mang lại cho tôi những góc nhìn mới lạ ở những tác phẩm quen thuộc mà tôi từng lơ đễnh bỏ qua. Thế nên, 1 câu rất quen, cái danh sách yêu thích nào đấy cũng chỉ là của thời điểm cụ thể nào đó mà thôi, rất có thể 1 thời gian sau, nghệ sỹ từng yêu thích nhất có thể k0 còn thấy hứng thú nữa, ai biết…

 

  01. Elena Obraztsova (1939~) , Russian/Soviet mezzo-soprano.

  Vài ba năm trước , tôi đã viết về bà – “1 giọng hát như tẩm xăng, chỉ chực bốc cháy mà lại phả ra hơi lạnh ngắt”, đến giờ cái ấn tượng ấy vẫn không hề phai nhạt, thậm chí còn mạnh mẽ hơn. Khi bắt đầu nghĩ đến cái list này, Obraztsova là cái tên đầu tiên xuất hiện trong đầu tôi, giống như M.Caballé (soprano), J.Bjorling (tenor) hay H.Prey (baritone). Obraztsova không phải là mezzo đầu tiên tôi nghe, và cũng không phải khi mới tiếp xúc với bản thu âm của bà (Cavaleria Rusticana) tôi đã mê luôn dù khá ấn tượng. Nhưng khi đến Il trovatore, tôi đã hoàn toàn bị đánh gục. Một dramatic mezzo hoàn hảo dành cho opera của Verdi với giọng hát mạnh mẽ, dồi dào, đặc chắc trong toàn bộ âm vực, những note cao mãnh liệt, những note thấp sâu thẳm của 1 contralto và 1 kĩ năng diễn xuất đầy cuốn hút. Không phải ngẫu nhiên Obraztsova đoạt giải nhất concuors Tchaikovsky thanh nhạc năm 70 (năm duy nhất mà Maria Callas tham gia chấm). Đã có 1 bài tiểu sử rất đầy đủ về quãng đời nghệ thuật của bà trên nhaccodien.info, có lẽ không cần nhắc lại.

  Mỗi lần nghe các bản thu của bà, bạn như muốn sôi lên theo từng note nhac, cái âm thanh cuồn cuộn trong giọng hát ấy, cái âm sắc với chất kịch tính bẩm sinh ấy cuốn trôi mọi cảm xúc của bạn. Obraztsova sở hữu giọng hát kịch tính, kĩ thuật chuẩn mực kiểu Ý, nhưng mang âm sắc Nga rất riêng biệt như 1 thứ mật ong ngọt sắc với hương vị lạ. Không phải mọi bản thu của bà đều xuất sắc, nhiều bản live thậm chí hơi “quá lửa”, nhưng 1 điều chắc chắn là, bản thu nào cũng tràn trề xúc cảm. Với Verdi- tác giả mà tôi yêu thích nhất, không 1 mezzo nào, kể cả Simionato, Cossotto, Gorr, Baltsa hay Zajick có thể vượt qua, đặc biệt là Azucena và Công chúa Eboli.

Download:

Elena Obraztsova – O don fatale – Don Carlo – Giuseppe Verdi.

Elena Obraztsova – Dark-Browed, Dark-Eyed -  Russian Folk Song.

02. Janet Baker (1933~), G.B. mezzo-soprano/contralto.

  “Grandi voci – Janet Baker – Bach,Purcell, Ravel” – là 1 trong những album thanh nhạc cổ điển đầu tiên tôi có. Đĩa tàu, lòng vàng, đã hỏng. Toàn bộ album là những tác phẩm không phổ biến (với tôi lúc đó và thậm chí kể cả sau này), và cũng không hề dễ nghe. Những tác phẩm thính phòng, baroque và lieder/artsongs là thế mạnh của bà. Càng nghe bà càng khó có 1 nhận định chính xác về giọng hát này, đôi khi rất tỉnh táo, sạch sẽ đến mức khô khốc, đôi khi lại đẩy đến giới hạn cuối cùng của mọi biên độ cảm xúc. Janet Baker yêu thích việc thu âm nên bà có một sự nghiệp ghi âm đồ sộ, so với các mezzo cùng thời, chỉ C.Ludwig là ngang ngửa. Riêng mảng lieder/art songs, có lẽ bà là nữ nghệ sỹ tôi thích nhất.

  Tôi từng bị ám ảnh bởi album “Janet Baker sing Mahler” (Emi) của bà. “The sea pictures”(Elgar) thì chắc chắn không có ai đạt tới. “Nuit d’été” (Berlioz) chẳng thua kém bản thu âm huyền thoại của Crespin là bao. Nếu 1 ai nghĩ J.Baker quá khô, nhạt hãy thử Hexenlied (Mendelssohn) hay Standchen (D.920 – Schubert) đảm bảo sẽ nghĩ lại. Một điều đáng tiếc là Baker né hầu hết các repertoire opera của thời kì Lãng mạn để bảo vệ thanh quản của mình. Đổi lại điều đó bà đã có 1 sự nghiệp dài đáng kể, ngay cả khi ở cuối sự nghiệp, đã nghỉ hưu, bà vẫn để lại những bản ghi âm đáng nhớ.

Download:

Janet Baker – Vergnügte Ruh – Cantata, BWV 170 – Johann Sebastian Bach.

Janet Baker – Hexenlied,  Op. 08, No. 08 – Felix Mendelssohn Batholdy.

03. Teresa Berganza (1935~) Spanish mezzo-soprano.

  Tôi từng rất không quá hứng thú với Berganza. Thật kì lạ, càng nghe bà lại càng thấy yêu thích hơn. Một giọng mezzo soprano với âm sắc sáng 1 cách lạ thường (lần đầu tiên nghe bà, thậm chí tôi đã nghĩ là 1 soprano) và cách thể hiện vô cùng thông minh. Không nhiều nghệ sỹ mà mỗi khi nghe lại phát hiện ra những điều mới mẻ thú vị hơn như Berganza. Khi nghe những mezzo màu sắc trữ tình như này dễ thấy nhạt nhẽo vì quá sạch sẽ (như J.Lammore hay F.von stade chẳng hạn) hoặc khô, lạnh vì quá tỉnh (như E.Garanca) nhưng ở Teresa Berganza lại không thấy điều đó. Bà thổi vào cách thể hiện của mình 1 phong cách rất Tây Ban Nha, sôi nổi, nồng nhiệt nhưng lại cực kỳ tinh tế duyên dáng chứ không thô lậu, hùng hục hay cố phô bày kỹ thuật chạy note thuần túy.

  Số mezzo mang lại cho tôi cái cảm giác dễ chịu, thư thái mà vẫn bộc lộ cá tính riêng như vậy không nhiều, ngoài bà chỉ có Zara Doloukhanova và thảng khi là Joyce di Donato – những người rất tiếc khi tôi k0 thể nhắc đến trong danh sách này. Berganza với âm nhạc của Rossini, Mozart và các tác phẩm Tây Ban Nha thật khó có người sánh bằng, nhưng điều quan trọng nhất, với cái tai tôi, âm sắc mezzo của bà đẹp hoàn mỹ.

Download:

Teresa  Berganza – Dunque io son  – Il barbiere di Siviglia – Gioachino Rossini. (duet with Hermann Prey – baritone)

Teresa Berganza – Cuatro canciones Vascas: Ai Isabel/Anderegeya/Loa-loa/Aldapeko Mariya – Felix Lavilla.

04. Marian Anderson (1897-1993) US. contralto.

  Tất cả những thế hệ nghệ sỹ thanh nhạc cổ điển Mỹ gốc Phi đều nghiêng mình trước Marian Anderson, cho dù có là những prima donna đỉnh cao như Leontyne Price hay Kathleen Battle. Rất nhiều người biết điều đó, rằng tài năng của bà đã mở ra cánh cửa cho những ca sỹ opera da màu được đường hoàng đứng trên sân khấu của những nhà hát diễm lệ nhất, vĩ đại nhất. Ngay cả Sibelius cũng hào phóng dành những lời ưu ái nhất cho M.Anderson: “Mái nhà của tôi quá thấp với cô”. M.Anderson sở hữu âm vực tự nhiên đáng ngưỡng mộ (trải dài từ soprano đến …baritone!!!) với những note trầm thực sự, rất đầy đặn.

  Nhưng tất cả nhứng điều đấy không phải là lý do bà được nhắc đến ở đây. Anderson là contralto tôi yêu thích nhất, ngay từ lần đầu tiên nghe. Âm sắc giọng hát của bà ấm áp 1 cách kỳ lạ, kể cả những note thấp nhất nghe sâu thẳm, nhưng vẫn mềm mại, vừa tai. Một giọng hát nhiều sắc thái nhưng lại rất chân phương, tình cảm, tuôn chảy một cách du dương êm đềm như những lời thủ thỉ âu yếm. M.Anderson giống K.Ferrier, không phải những nghệ sỹ được đào tạo chuẩn mực, không có kĩ thuật virtuoso hoành tráng, nhưng lại là những giọng hát rất lôi cuốn và giàu nhạc cảm.

  Danh mục biểu diễn của bà rất hạn chế, một phần vì bà không có được nhiều tác phẩm phù hợp với giọng hát, một phần vì sự phân biệt đối xử với màu da của bà trong thể kỉ trước, nhưng Anderson vẫn kịp để lại nhiều bản thu âm quí giá. Một phần quan trọng trong cái gia tài ấy, bên cạnh những tác phẩm cổ điển chính thống, là những ca khúc Negro spiritual – những ca khúc tôn giáo của cộng đồng người nô lệ da đen Mỹ gốc Phi (một thể loại âm nhạc gốc rễ, đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành nhiều dòng nhạc đương đại như jazz, blue, gospel,…). Spiritual qua giọng hát của M.Anderson như mang lại niềm vui, nỗi buồn, sự thành kính và cả đức tin.

Download:

Marian Anderson – He’s Got the Whole World in His Hands – Spirituals.

Marian Anderson – Säv, säv, susa, Op. 36, No. 04 – Jean Sibelius.

05. Kathleen Ferrier (1912-1953) G.B. contralto.

Tôi đã xếp K.Ferrier vào “11 greatest classical voice in XX Century“, trên cả những Flagstad, Price, Fischer-Dieskau và tôi vẫn chưa định thay đổi quyết định đó. Thực ra cách đây 3-4 năm, tôi không hề thích Ferrier đến vậy, một phần là tôi không thấy giọng hát của bà quá lộng lẫy, phần nữa vì những tác phẩm quan trọng trong danh mục biểu diễn của bà không nằm trong favwork của tôi thời ấy (Mahler, Gluck, Bach, Chausson, Schubert, Schumann,…). Vài 3 năm gần đây, tôi mới quan tâm nhiều hơn đến artsongs, nghe nhiều hơn và tự thấy là mình thật sai lầm khi từng bỏ qua cái mảng âm nhạc tuyệt vời này. Nhiều bản thu âm vốn bỏ xó lại được dịp lục lại, trong đó có nhiều CD của Ferrier. Rất nhiều khi, tôi mua 1 boxset CD chỉ vì 1 yếu tố rất nhỏ nào đó (vì 1 tác phẩm yêu thích với casting là những ca sĩ yêu thích, hoặc 1 tác phẩm hiếm, nghệ sỹ tài năng từng được nhiều ng nhắc tới nhưng ít thu âm, hoặc đơn giản hơn là vì hàng sales off giá khủng! :D ), và không phải lúc nào cũng hứng thú hết với tất cả các tracks trong CD ở những lần nghe đầu tiên. Lâu lâu, rảnh bật lại những đĩa cũ, lại phát hiện ra những vẻ đẹp mới từ những tác phẩm rất hay mà mình từng không để ý, hoặc những nhấn nhá, sáng tạo riêng rất nhỏ trong cách thể hiện của mỗi nghệ sỹ. Dần dần, những quan niệm, đánh giá về những tác phẩm, tác giả hay những nghệ sỹ được nhìn nhận 1 cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, những thành kiến (nếu có) ban đầu cũng nhạt phai đi. Nó như 1 khoảng lùi, 1 khoảng thời gian đủ để 1 tác phẩm hay giọng hát k0 hợp taste có thể thẩm thấu tự nhiên vào bản thân.

  Hơi lan man 1 chút và cũng chẳng nói gì nhiều về K.Ferrier vì thực ra đã nhắc đến bà trong enrty trước rồi. Chỉ biết rằng, càng nghe các bản thu âm của bà, càng thấy không thể cưỡng được sức hấp dẫn ngầm trong cái giọng hát rất có hồn ấy.

Download:

Kathleen Ferrier- An die Musik, D.547 – Franz Schubert.

Kathleen Ferrier – The stuttering Lovers – Folk Song (arranged by Hughes).

06. Cecilia Bartoli (1966~) Italian mezzo-soprano.

  Tôi định dừng cái part 1 này ở vị trí thứ 5 với Kathleen Ferrier, nhưng vì Bartoli, tôi đã phải kéo dài thêm 1 chút… Bartoli là 1 nghệ sỹ virtouso, 1 recitalist thậm chí là 1 nhà nghiên cứu âm nhạc hơn là 1 nghệ sỹ biểu diễn opera. Mấy năm trở lại đây, thấy Bartoli không còn mặn mà với những production opera nữa mà chìm đắm vào những dự án mới khôi phục nhiều tác phẩm bị quên lãng.

  Công bằng mà nói, Bartoli không có 1 giọng hát quá đẹp, và dù có đốt cháy những chuỗi note hoa mĩ ở tốc độ súng liên thanh, Bartoli vẫn bị những nhà phê bình thanh nhạc lẫn những giảng viên thanh nhạc chính thống lên án ở kĩ thuật hát thiếu chuẩn mực. Bây giờ là thời đại của những mezzo màu sắc, có quá nhiều tài năng: J.di Donato, V.Genaux, E.Garanca,… nhưng Bartoli vẫn có 1 vị trí đặc biệt trong lòng người hâm mộ. Bartoli dễ dàng cho khán giả thấy được niềm vui, sự đam mê của cô ở mỗi note nhạc. Rất nhiều người như tôi, yêu thích cô ở cái cách thể hiện sôi nổi đầy phóng khoáng và nghệ sỹ như thế. Con người bên trong của cô là âm nhạc, âm nhạc sống, âm nhạc nhảy múa, âm nhạc chảy lững lờ hay cùôn cuộn như thế nào, tất cả đều bộc lộ trong giọng hát của cô qua mỗi tác phẩm. Tôi ước ao giá như hoà nhạc Hennessy Việt Nam một lần mời đến Ceccilia Bartoli – 1 trong những nghệ sỹ thanh nhạc vĩ đại nhất còn biểu diễn hiện nay, người mà tôi vô cùng yêu mến, như thế thì cách gì cũng cố gắng chen chân vào NHL bằng được, hehe…

Download:

Cecilia Bartoli – Son Qual nave – Riccardo Broschi.

Cecilia Bartoli – Rataplan – Maria Malibran.

(Còn tiếp).

Xmas with Price(less) voice :P

Download album: Christmas with Leontyne Price

Leontyne Price (Soprano)

Herbert von Karajan (Conductor)

Wiener Philharmoniker Choir and Orchestra.

Recorded in June 1961

I’m not a Christian , even not really interested in Xmas music, but 2me, that’s the best classical Xmas album, especially for 2nite. This album was recorded in early 60s, capturing one of the most beautiful Black voice in prime, with Karajan and Wiener Philharmoniker Orch.

Merry Xmas!

Mai

HERMANN PREY (1928-1998)

Download: Richard Strauss – Morgen – op.27, No.04

Hermann Prey (baritone)

Wolfgang Sawallisch (piano)

Recorded on 1972.

——
Morgen!

Und morgen wird die Sonne wieder scheinen
und auf dem Wege, den ich gehen werde,
wird uns, die Glücklichen sie wieder einen
inmitten dieser sonnenatmenden Erde…
und zu dem Strand, dem weiten, wogenblauen,
werden wir still und langsam niedersteigen,
st-umm werden wir uns in die Augen schauen,
u-nd auf uns sinkt des Glückes stummes.
John Henry Mackay (1864-1933).
—————

Mai!

Mặt trời vẫn sáng rọi, ngày Mai,
Anh lại được hoà vào em làm một,
Trên con đường của những kẻ sung sướng cùng tột.
Nơi mặt đất hơi thở nắng ngập tràn.
Nơi bờ biển mênh mông, sóng vỗ mơ màng
Mình sẽ ngả lưng xuống…
… khẽ khàng,
… chầm chậm.
Sẽ im lặng…
… nhìn vào mắt nhau
… thật lâu
Sẽ chìm sâu
… trong hạnh phúc nhiệm mầu
… tĩnh lặng..

(From Figaro Di HaNoi to Nhùn Mai)

Tài năng và nhân cách.

Mấy hôm nay  ngồi nghe lại vài bản thu âm của Di stefano nên tự dưng nổi hứng… Tôi có nhiều entry còn chưa giải quyết hết, trong số đó có cái cục gạch này.

Giuseppe di Stefano (1921 – 2008)

Giusseppe di Stefano là 1 trong những tenor tôi biết đến sớm nhất. Đó là từ bản Tosca huyền thoại nổi tiếng năm 1953 của EMI (cùng Callas, Gobbi và de Sabata). Tôi đã mua nó cùng thời kì với bản Carmen (Domingo/Migenes), Il barbiere di siviglia (Alva/Berganza/Prey/Abbado), Aida (Tebaldi/Bergonzi/Simionato/Karajan). Ấy những vở opera đầu tiên mà tôi có – toàn bộ là CD chép của VN hoặc CD Tàu lòng vàng- giá đồng hạng 10.000 vnđ/cd – mức giá tôi có thể sẵn sàng bỏ tiền ra cho việc mua CD nhạc vào thời điểm năm thứ 2 đại học, khi tôi mới bắt đầu tiếp cận opera và nhạc cổ điển. Điều bùn cười là vở Aida tôi chỉ kiếm được CD2, còn Tosca chỉ kiếm đc CD1 , CD opera hồi đó k0 hề phổ biến (sau này tôi kiếm đc CD1 của Aida ở chợ Trời nhưng CD2 của Tosca mãi tôi mới tìm được).  Số CD của tất cả 4 bộ đấy giờ đều đã hỏng, phần lớn tôi đã tìm down/mua lại để bổ sung.

Download: Dammi i colori… Recondita armonia – Tosca – Giacomo Puccini

Giuseppe di Stefano (tenor)

Melchiore Luise (baritone)

Victor De Sabata (Conductor)

Orchestra Del Teatro Alla Scala.

Recorded in August 1953.

Kể rông dài là thế, chỉ có mục đích nhấn mạnh lại cái câu: tôi biết đến Giusseppe di Stefano từ khá sớm. Thế nhưng, không phải tôi đã thích luôn. Tosca -1953 là bản thu âm đc thực hiện trong thời kì hoàng kim của giọng hát Di stefano (50s), nhưng tôi lại ấn tượng nhiều hơn với Franco Corelli, Jussi Bjorling, L.Pavarotti và P.Domingo ở cái thời kì mới nghe nhạc ấy.  Ấn tượng của tôi lúc ấy là về vấn đề nhân cách nhiều hơn là giọng hát của ông. Giuseppe di Stefano xuất hiện như một phản ví dụ điển hình trong bài học về đạo đức thầy-trò, đạo đức nghệ sỹ opera trong quyển “Giáo trình sư phạm thanh nhạc” của GS.NSND Trung Kiên – quyển sách về opera đầu tiên mà tôi đọc. Tôi k chắc chắn tất cả thông tin trong quyển giáo trình ấy là chính xác, nhưng những giai thoại về tính tình đồng bóng, thích nổi tiếng, thích được tung hô, chăm bẵm , hay kèn cựa với các prima donna (Callas, Crespin,…) khi ở đỉnh cao của sự nghiệp của di Stefano vốn đầy rẫy trong hồi kí các nghệ sỹ. Trước khi qua đời, Bjorling đã từng một lần thừa nhận rằng, Di stefano sẽ là giọng tenor xuất sắc nhất trong thế hệ nếu ông thực sự quan tâm đến sự nghiệp của mình.

Di stefano nổi tiếng và được phát hiện khá sớm ngay từ những năm 40s.  Ông từng được 1 người giáo viên tư nhận riêng về đào tạo học tại gia (Đôi khi những người giáo viên tư  tại Ý thời ấy lại nắm sâu sắc kĩ thuật hát truyền thống và có kỹ năng sư phạm xuất sắc hơn cả những giáo sư thanh nhạc tài tăng nhất của các nhạc viện danh tiếng ở Milan, Venice,… 1 truyền thống sư phạm rất thú vị của Ý là những học sinh xuất sắc thường được các giáo viên nhận về dạy riêng, sống cùng gia đình họ, và Di stefano là một trong số đó).  Xuất thân trong gia đình bình dân, sớm nổi tiếng, kiếm được nhiều tiền, Di Stefano nhiễm phải bệnh ngôi sao. Ông rũ bỏ quá khứ và phủ nhận cả người thầy thủơ hàn vi. Sự tham vọng bước đến vị trí số 1, cuộc sống hào nhoáng, phù phiếm của 1 ngôi sao quyến rũ Di stefano nhiều hơn là việc quan tâm đến giọng hát tuyệt đẹp của mình. Di stefano nhận nhiều vai nặng, vai kịch tính rồi giọng hát nhanh chóng suy tàn khi chưa đầy 40t – thời kí đáng lẽ là đỉnh cao nhất đối với mọi ca sĩ opera. Những lần xuất hiện sau này có thể khiến nhiều người hâm mộ giọng hát ông phải nhỏ lệ vì tiếc nuối.

Khi giọng hát di Stefano mới xuất hiện trên bầu trời opera, người ta như tìm thấy một chuẩn mực mới của vẻ đẹp tenor Ý.  Toti dal Monte – soprano Ý nổi tiếng trước ww2 từng nói rằng: Tôi không thể cầm được nước mắt trước giọng hát tuyệt đẹp của Di Stefano. Tôi k0 có trái tim nhạy cảm như  dal Monte, nhưng cũng đã bị ấn tượng mạnh mẽ trước những bản thu âm mono thời kì đầu của di Stefano. Giọng hát tròn đầy,  các note cao sáng rực rỡ với  âm sắc Ý truyền thống đẹp hơn tất cả những tenor Ý tài năng trong thời kỳ của ông (M.del Monaco, F. Corelli, C.Bergonzi, G.Raimondi,…). Di Stefano rõ ràng là một tài năng thực sự, thế nên tôi k0 hề bất ngờ khi những giọng tenor đẹp nhất thế hệ sau như  Pavarotti, Carreras đều tỏ ra ngưỡng mộ tài năng của Pipo dù ông chỉ đứng trên đỉnh cao trong khoảng 10 năm và chưa bao giờ thực sự ở vị trí số 1. May mắn là EMI đã kịp capture đầy đủ 10 năm vinh quang này của Di Stefano với những bản ghi âm đáng nhớ như Tosca, Rigoletto, Lucia Di Lammermoor, La Boheme, Il Trovatore (tất cả đều với Callas).

Download: La donna è mobile – Rigoletto – Giuseppe Verdi

Giuseppe di Stefano (Tenor)

Renato Cellini (Conductor)

Palacio de Bellas Artes Orchestra.

Recorded live on 22nd June 1948.

Đây là bản thu âm live năm 1948  của 1 di Stefano mới 27t . Chất lượng âm thanh tệ hại không che mờ được giọng hát tươi rói với âm sắc tuyệt đẹp và note Si kết huy hoàng, chắc nịch. Trong câu nhạc “Muta d’accento e di pensier!” (Các nàng đổi giọng, đổi cả nghĩ nghĩ suy), giống như hầu hết các lần thể hiện sau này, di Stefano thực hiện Diminuendo từ forte thành 1 note nhạc pianisimo đẹp như mộng – khả năng gần như biến mất khi Di Stefano bước vào thập niên 60. Di Stefano đã bis ngay trên sân khấu trước sự phấn khích điên cuồng của khán giả. “La donna è mobile” vốn là một aria đơn giản, không quá khó, nhưng cũng chính Stravinsky từng nhận định rằng :”Có nhiều chất lượng và sáng tạo thực sự trong aria “La dona è mobile” hơn là sự khoa trương om sòm ở “Ring” của Wagner.”  Bản thu âm này của Pipo là bản thu âm “La donna è monile” yêu thích nhất của tôi.

Download: Porquoi me réveiller? – Werther – Jules Massenet.

Giuseppe di Stefano (Tenor)

Franco Patane (Conductor)

Zurich Tonhalle Orchestra.

Recorded in 1959.

Download: Non piangere Liù – Turandot – Giacomo Puccini.

Giuseppe di Stefano (Tenor)

Franco Patane (Conductor)

Roma Orchestra dell’Accademia Nazionale di Santa Cecilia.

Recorded in 1959.

Decca sử dụng 2 bản thu âm năm 59 của ông trong hợp tuyển album 10 top tenors. Có thể coi như đây là những bản thu âm bản lề giữa 2 thời kì giọng hát của Di Stefano. Một Werther lãng mạn vơí “Pourquoi me reveiller” và 1 heroic Calaf trong “Non piangere Liu” – tác nhân làm thay đổi chất lượng giọng hát của Di Stefano. Ngay trong bản thu âm này cũng đã thấy ít nhiều sự nặng nề, mệt mỏi ở giọng hát Pipo. Nên nhớ, khi ấy Di Stefano chỉ mới 38t!

Download: Celeste Aida – Aida – Giuseppe Verdi.

Giuseppe Di Stefano (Tenor)

Bruno Bartoletti (Conductor)

Florence Maggio Musicale Orchestra.

Recorded in June 1962.

Di Stefano chỉ thực hiện 1 bản ghi âm duy nhất cho DG – 1 recital album vào năm 62 khi giọng hát đã bắt đầu giảm sút. Không thể tin nổi 1 giọng tenor mới chớm 40t mà âm sắc đã nặng nề khô cứng còn những note cao thì trơ rỗng vô hồn.

Và đến thập niên 70s, khi bước vào tuổi 50 thì những note pianissimo kì ảo ngày nào chỉ còn lại như thế này thôi…

Download: Vainement, ma bien aimée – Roi D’Ys  – Èdouard Lalo.

Giuseppe di Stefano (Tenor)

Robert Sutherland (Piano).

Recorded on 13th May 1974.

Tôi không biết nhiều con người của Stefano, cũng không có suy đoán tưởng tượng gì cả. Ông không hẳn là fav tenor của tôi, dù ít nhiều tôi cũng có những bản thu âm yêu thích với sự tham gia của ông. Cứ tạm cho những gì tôi đọc về ông là đúng đi. Cứ cho là ông k phải là một nhân cách mẫu mực đi. Nghệ sỹ vốn thường không phải là những điển hình về nhân cách cao đẹp, thậm chí họ có nhiều tính cách xấu như Ích kỷ, tham vọng, hay tự ái, không ổn định,… thế nên cũng chỉ cần nhìn nhận họ ở vai trò của họ thôi – vai trò trong nghệ thuật.

11 greatest voices in XX century by Figaro và 1 sự khách quan (cứ cho là) giả lập

Mềnh biết là nhiều bạn khoái các thể loại danh sách , nên sang năm mới 2011 quyết định lập ra 1 list 11 nghệ sỹ opera và thanh nhạc cổ điển xuất sắc nhất của thế kỉ 20 (theo ý kiến chủ quan), coi như là 1 tổng kết nho nhỏ sau một thời gian nghe và tìm hiểu về opera.

Danh sách đầu tiên là danh sách dựa trên tiêu chí tên tuổi, tầm ảnh hưởng , vị trí, tài năng của nghệ sỹ đối với opera và thanh nhạc cổ điển thế kỷ 20. (của tkỷ 20 vì trước đấy thì thiết bị ghi âm chưa phát triển, còn sau đấy thì còn quá sớm để đánh giá các nghệ sỹ trẻ). Đây không phải list những nghệ sỹ yêu thích vì quá nửa nghệ sỹ trong list này k0 nằm trong fav artists của tớ, danh sách fav artists sẽ giới thiệu sau. Nói túm lại là nó cũng hơi lý tính (tất nhiên đánh giá, lựa chọn vẫn có tí cảm tính, vì chẳng có cái list cá nhân nào mà không có sự  chủ quan cả). Cũng nói thêm đây là list của thời điểm hiện tại, dựa trên kiến thức và những gì tớ đã nghe trong suốt thời gian qua, còn sau này, có thể vị trí và nhân sự của list trên sẽ có ít nhiều thay đổi, nhưng đấy là chuyện của sau này… Giờ xin mời nghía qua.

1. Maria Callas (1923-1977) soprano

2. Enrico Caruso (1873-1921) tenor

3. Placido Domingo (1941) tenor

4. Feodor Chaliapin (1873 – 1938) bass

5. Joan Sutherland (1926 – 2010) soprano

6. Dietrich Fischer-Dieskau (1925) baritone

7. Kathleen Ferrier (1912-1953) contralto

8. Kristen Flagstad(1895-1962) soprano

9. Leontyne Price (1927) soprano

10. Tito Gobbi (1913-1984) baritone

11. Christa Ludwig (1928) mezzo-soprano

—————————-

1. Maria Callas (1923-1977) soprano

Tôi hoàn toàn có thể nghi ngờ sự tin cậy của bất cứ  list greatest operatic artists nào không nhắc đến Callas, thậm chí là nếu không phải ở vị trí đầu tiên. Với vinh quang gần như  chỉ nằm trong khoảng hơn chục năm (thời kì đỉnh cao nhất là1953-1964) nhưng Callas đã trở thành tượng đài vĩ đại nhất của thánh đường opera. Tôi chưa bao giờ thấy 1 nghệ sỹ nào tỏ vẻ nghi ngờ tài năng cũng như vị trí của Callas, còn những cái tên bày tỏ sự ngưỡng mộ, và thú nhận bị ảnh hưởng, thậm chí phát rồ vì Callas thì k0 kể xiết (Schwarzkopf, Sutherland, Gencer, Caballe, Pava, Sass, Bartoli, Dessay, Netrebko, Urmana,…) Mỗi thế hệ nghệ sỹ opera, người ta lại cố gắng tìm kiếm người có thể kế vị, một new Callas, nhưng chưa ai dám nghĩ đến việc thay thế Callas. Trước và sau thời kì đế chế của Callas có không ít giọng hát đẹp hơn, tài năng không kém, và thậm chí có cả người mà Callas ngưỡng mộ (như  Rosa Ponselle), nhưng không có một người nào đạt đến vị trí tối thượng như  Callas. Ngay cả những nghệ sỹ lựa chọn trong danh sách này, tôi đều lấy từ Callas làm chuẩn, keke.

Đối với riêng tôi, Callas là ca sĩ opera đầu tiên mà tôi nghe và khiến tôi đến với opera. Thú thực là không phải tôi đã bị hấp dẫn ngay, vì âm sắc giọng hát hơi quá nặng đối với taste của một đứa chưa biết gì về opera giống như tôi lúc đó, nhưng tôi đã bị ấn tượng rất mạnh và rồi dần dần bị cuốn hút. Tôi lúc ấy, không biết thế nào là một giọng hát đẹp, không biết cái aria kia, cái duet này nói về cái quái gì, không biết kĩ thuật x,y,z là cái fuckin gì, hoàn toàn là tờ giấy trắng. Kể cả gần 1 năm sau khi nghe cái collection album La Divina của Callas (album đầu tiên mà tôi có) và đã bị Callas bỏ bùa, tôi cũng còn chả hiểu aria Vissi d’arte là về gì. Callas đã bắc cái cầu đầu tiên đưa tôi đến với thế giới opera, để tôi tìm hiểu, yêu thích. “Tình yêu lớn là Caballe còn tình yêu đầu tiên là Callas” – Mr Cò đã nói về tôi như vậy trong một lần hồi box nhạc chúng tôi mới gặp gỡ nhau. Thường thì người ta chỉ nhớ đến mối tình đầu tiên và cuối cùng mà thôi.

Callas cũng là nghệ sỹ đầu tiên mà tôi viết Tiểu sử cho trang nhaccodien.info. Tôi đã đọc về Callas một cách say mê, viết một cách say mê với một cảm xúc ngây ngô đầy nhiệt tình … Bây giờ tôi không dám đọc lại bài đấy nữa, vì tôi biết là tôi đã chả hiểu gì về Callas cả. Tôi nhớ dịch giả Thúy Toàn từng thú nhận đại ý rằng nếu biết trước về Pushkin thì đã không dám dịch “Tôi yêu em” nữa, tôi k0 dám so sánh với Thúy Toàn, nhưng quả thật tôi thấy là tôi đã …liều quá.

Tôi vẫn chưa dám viết một entry về Callas, mỗi một lần nghe lại Callas lại là một xúc cảm khác, và chưa bao giờ có thể định hình lại một cách rõ nét để viết. Nhưng chắc chắn là , chưa thể đóng cửa blog này trước khi có 1 entry về Callas.

Tôi nghĩ không một vai diễn nào, kể cả Tosca, khắc họa rõ nét con người, tính cách và tài năng của Callas hơn Norma. Cái khoảnh khắc khi Callas cất giọng hát những note nhạc đầu tiên trong aria ”Casta Diva”, Callas đã tỏa sáng như 1 La Divina (nữ thần). Bản thu âm studio “Casta Diva” năm 1960 (nằm trong complete Norma thực hiện với F.Corelli, C.Ludwig dưới đũa chỉ huy của nhạc trưởng T.Serafin) là bản thu âm nổi tiếng và phổ biến nhất của Callas. Vâng,  hãy nghe đi để thấy rằng dù Sutherland tuyệt vời, Caballe tuyệt vời, Gencer tuyệt vời, Sills tuyệt vời, nhưng Norma chỉ có thể là Maria Callas.

Download: Casta Diva – Norma – Bellini

Maria Callas (Soprano)

Tullio Serafin (Conductor)

Orchestra e Coro del Teatro alla Scala

Recorded in 1960

2. Enrico Caruso (1873-1921) tenor

Vị trí thứ 2 và 3 luôn làm tôi đau đầu. Giữa Caruso và Domingo, chọn ai đây? Một người là “King of Singing”, một người là “King of Opera”… Nhưng cuối cùng tôi đã chọn Caruso.  Tôi cho rằng những gì Domingo đang làm ở sườn dốc của sự nghiệp mang ít nhiều tính thương mại và tham quyền cố vị (xin đừng bash tôi vì nhận định này).

Giống như trường hợp của Callas, mỗi tenor thế hệ sau, đều phải chịu sức ép so sánh đối với Caruso. Caruso cũng không phải một giọng hát hoàn hảo, nhưng đã trở thành một biểu tượng, một thứ như là chuẩn mực đối với một giọng tenor. Caruso là ca sĩ đầu tiên có sự nghiệp và tên tuổi rộng khắp trên toàn thế giới, là ca sĩ ngôi sao đầu tiên của kỷ nguyên ghi âm. Hình ảnh Caruso trong vai Canio đã vượt khỏi opera và trở thành một biểu tượng văn hóa. Tôi lựa chọn bản thu âm “Vesti la giubba” năm 1907 – bản thu âm nổi tiếng nhất của Caruso với aria này và cũng là trích đoạn nổi tiếng nhất của Caruso.

Download: Recitar! mentre preso dal delirio… Vesti la giubba – Pagliacci – Leoncavallo

Enrico Caruso (Tenor)

Condutor and Orchestra – Unknown

Recorded in 1907

3. Placido Domingo (1941) tenor

Tôi không muốn nói nhiều (vì đã nói quá nhiều) về Domingo. Việc ông nằm trong list này là chắc chắn, cái tôi lăn tăn chỉ là ông nằm vị trí thứ mấy thôi. Ngoài Callas ra, không một nghệ sỹ nào có tầm ảnh hưởng lớn trong opera như Domingo, cũng không một nghệ sỹ nào ở trên đỉnh trong thời gian dài như  Domingo. Cái người ta tò mò bây giờ là Domingo sẽ kết thúc sự nghiệp của mình như thế nào để xứng đáng như 1 Legend. Nếu bạn bảo nghệ sỹ yêu thích nhất của bạn là Domingo, dù có thể người ta không đánh giá cao bạn, nhưng sẽ không ai bảo bạn có gout tồi cả.

Xin phép được dùng lại bản ghi âm năm 1978  “Niun mi tema” vì đã một lần giới thiệu rồi. Ngay cả khi đã nghe lại không biết bao nhiêu lần, vẫn sởn da gà trước tiếng thét từ tận cùng đau đớn: “Desdemona! ah! morta! morta! morta!”

Download: Niun mi tema – Otello – Verdi

Placido Domingo (Tenor)

James Levine (Conductor)

National Philharmonic Orchestra

Recorded in 1978

4. Feodor Chaliapin (1873 – 1938) bass

Callas liệu có phải là acting-voice đầu tiên? Không, người đó chính là Feodor Chaliapin. Chaliapin là một trong những kịch sỹ vĩ đại nhất của nền nghệ thuật sân khấu nói chung và opera nói riêng. Cá nhân tôi cho rằng  Chaliapin là người có ảnh hưởng lớn đến trường phái thể hiện giàu tính kịch của Verismo opera. Chính ông  là người đầu tiên thay đổi thẩm mỹ thưởng thức opera của khán giả, cho khán giả thấy rằng người ta không đến nhà hát opera chỉ để nghe Hát và cũng là người đầu tiên trở thành ngôi sao opera chỉ với giọng Bass (vốn trước đây bass chỉ là những ca sĩ hát vai thứ, vai phụ). Feodor Chaliapin là cánh chim đầu đàn của nền thanh nhạc cổ điển Nga.

Vai diễn opera nổi tiếng nhất của Chaliapin là Boris Godunov với cái death scene đã trở thành một tượng đài khó thay thế. Tuy nhiên tôi chọn giới thiệu ở đây bản ghi âm nổi tiếng khác:  bài hát của gã du đãng say rượu Varlaam (cũng trong Boris Godunov) – bản ghi âm đầu tiên của Chaliapin mà tôi nghe và cho tôi một hình dung ban đầu về Chaliapin.

Download: Как во городе было во Казани (In the town of Kazan) – Boris Godunov – Mussorgsky

Feodor Chaliapin (Bass)

Rosario Bourdon (Conductor)

Orchestra – Unknown

Recorded in 1927

5. Joan Sutherland (1926 – 2010) soprano

Có thể bạn tìm thấy ít nhiều nhược điểm trong giọng hát và cách thể hiện của Sutherland, nhưng hãy thành thực đi, liệu bạn tìm được giọng hát nào có vẻ đẹp âm thanh thuần túy lộng lẫy hơn  Sutherland? Nếu nhắc đến chức năng nguyên thủy của giọng hát trong Opera thì hãy nhớ rằng Joan Sutherland là cái đỉnh cao nhất. Ngay cả Callas còn phải thốt lên rằng: “Cô ấy đã vất bỏ sự nghiệp của tôi lại phía sau 100 năm”.  Giọng hát của Sutherland là một điều kỳ diệu, nó làm bạn quên đi tính kịch trong opera, thậm chí quên đi cả âm nhạc, tất cả chỉ còn lại vẻ đẹp tuyệt đối của âm thanh giọng hát. Nhưng điều đó là ưu hay nhược điểm? Nó giúp Sutherland luôn nằm trong danh sách những ngệ sỹ opera quan trọng nhất của thế kỉ, nhưng cũng vì nó mà bà không bao giờ có thể ở vị trí đầu tiên…

La Stupenda Joan Sutherland có quá nhiều bản thu âm must have, chắc chắn tôi sẽ giới thiệu trong 1 entry gần đây. Nếu thực sự yêu thích vẻ đẹp âm thanh giọng hát thì không thể bỏ qua album huyền thoại “The art of prima donna” với  note e3 đẹp nhất trong lịch sử ghi âm (với cá nhân tôi) trong Aria/Cabaletta: Bel raggio lusinghier…Dolce pensiero (từng được giới thiệu ở đây). Giờ  xin phép đc giới thiệu 1 aria/cabaletta ít phổ biến hơn của Sutherland, aria của Odabella trong vở Atilla của Verdi. Bản thu âm năm 1963 không chỉ capture đầy đủ  những note cao đẹp lộng lẫy của Sutherland mà còn cho thấy một Sutherland kịch tính mang màu sắc Callas (ngừoi đã khích lệ Sutherland theo đuổi coloratura reprtoire) như thế nào. (Những bản thu âm tkì đầu 60s của Sutherland nghe kịch tính và rực lửa hơn hẳn những bản thu âm sau này kể cả so với những bản ghi âm aria Wagner hay Turandot)

Download: Santo di patria… Allor che i forti corrono – Attila – Verdi

Joan Sutherland (Soprano)

Richard Bonynge (Conductor)

London Symphony Orchestra

Recorded in 1963

6. Dietrich Fischer-Dieskau (1925) baritone

Tôi không biết bắt đầu về Fischer-Dieskau thế nào? và cũng không biết lựa chọn bản ghi âm nào để giới thiệu về ông : “Der Erlkönig”? “Winterreise” ? “Dichterliebe”? … F-D là một trong những nghệ sỹ thanh nhạc cổ điển ghi âm nhiều nhất. Tôi chưa từng thống kê những bản ghi âm của ông nhưng số đĩa lieder, artsongs mà tôi có của ông bằng cả số đĩa ca khúc nghệ thuật của các nghệ sỹ khác mà tôi có. Nhưng sự thật là ông chưa bao giờ là fav artist của tôi. Tôi thích giọng hát tuyệt đẹp của M.Goerne, thích cái cảm xúc ăm ắp trong cách thể hiện của H.Prey, thích cái cách hát thủ thỉ như kể chuyện và âm sắc mượt mà của G.Souzay, thích cái sự trẻ trung tươi roi rói đầy nhiệt huyết của F.Wunderlich, thích sự  sâu sắc đến bình thản của J.Baker, thích sự tỉnh táo đến mô phạm của von Otter, thích cái trong trẻo, tươi tắn của L.Popp, … F-D là tổng hợp của tất cả những điều đấy, là Master of Lieder, người ta không thể tìm được người có tầm vóc lớn hơn ông trong lieder nói riêng và artsongs nói chung trước cái sự nghiệp đồ sộ của F-D.  Nhưng tôi chưa bao giờ có thể tập trung nghe thật kỹ một tác phẩm mà ông thể hiện. Tôi thấy nặng nề. Dù rằng ông có một giọng baritone trữ tình rất sáng, đẹp và thuận tai. Ở mảng opera cũng vậy,  cá nhân tôi không thấy hấp dẫn trong cách thể hiện của ông với opera, hơi nhiều chất …oratorio. Tôi k0 tìm hiểu nhiều ở mảng này của ông nên không dám võ đoán, thôi cứ cho là không hợp taste đi vậy.

Tôi chọn ở đây một ca khúc khá dễ thương của Othmar Schoek. Ca khúc này có phần đệm piano nhí nhảnh cùng lời thơ trong trẻo như một bài thơ thiếu nhi, không phải là một hình ảnh nghiêm túc quen thuộc thường thấy của F-D

Download: Reiselied, Op. 12 No.1 – Schoek

Dietrich Fischer-Dieskau (Baritone)

Aribert Reimann (Piano)

Recorded in 1970

7. Kathleen Ferrier (1912-1953) contralto

Trước khi nghĩ đến Ferrier, tôi đã cố gắng lục tung toàn bộ trí nhớ của mình xem ngoài bà, còn giọng hát nào có thể chạm sâu hơn vào tâm hồn tôi không? Và tôi đã thất bại. Opera và thanh nhạc cổ điển đã mang lại cho tôi rất nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều lần xúc động đến rùng mình, sởn gai ốc, trước vẻ đẹp của âm nhạc, của âm thanh giọng hát con người. Nhưng với  mỗi bản thu âm của Kathleen Ferrier thì lại là những trải nghiệm với một cảm xúc hoàn toàn khác. Thứ âm nhạc đến từ giọng hát đặc biệt của bà không chỉ đọng lại ở đôi tai mà nó cứ len lỏi dần vào sâu thẳm phía bên trong và lơ lửng ở đấy. Tôi tin đấy không chỉ là cảm giác của riêng bản thân tôi mà của rất rất nhiều người khác đã tiếp xúc với những bản thu âm của bà. Ferrier không có 1 âm vực rộng, không có một âm lượng khổng lồ, không có kỹ thuật hát của 1 virtuoso, không có kỹ năng diễn xuất sân khấu nổi trội, nhưng Ferrier có nhạc cảm và 1 trái tim nghệ sỹ đủ để khiến tất cả những điều còn lại trở nên vô nghĩa. Bước vào con đường nghệ thuật rất muộn và lại sớm kết thúc bởi căn bệnh hiểm nghèo, nhưng gần như tất cả những bản thu âm Kathleen Ferrier để lại dù là live hay studio được thực hiện trong quảng thời gian ngắn ngủi ấy đều là một di sản vô giá của âm nhạc cổ điển. K.Ferrier là một trong không nhiều nghệ sỹ thanh nhạc cổ điển có thề trò chuyện với tâm hồn bạn qua âm nhạc. Tôi chọn bà không phải bởi vì bà là 1 contralto quý hiếm, cũng không phải vì bà nhận được sự kính trọng và yêu mến của nhiều thế hệ nghệ sỹ , nhạc trưởng tài danh, tôi chọn bà cũng chính bởi cái khả năng trò chuyện thiên bẩm ấy, dù bà không hẳn là một fav artist của tôi.

Kathleen Ferrier có nhiều bản ghi âm gắn với ít nhiều kỉ niệm của tôi, nhưng có lẽ tôi sẽ chia sẻ trong 1 entry riêng về bà. Ở đây tôi muốn  giới thiệu 1 bài hát dân ca – “Blow the wind southerly”.  “Ferrier đã vượt qua mọi định kiến, mọi lời chỉ trích từ phía những nhà phê bình để tiến hành ghi âm các bài hát (dân ca) này, những tác phẩm thanh nhac giản dị đến mức nhiều người coi là không có giá trị nghệ thuật…” (by PP)

Download: Blow the wind southerly – Northumbrian folk

Kathleen Ferrier (Contralto)

Reorded in 1949

8. Kristen Flagstad(1895-1962) soprano

Nếu chia miếng bánh Opera thành nhiều phần thì tôi cho rằng nó sẽ gồm 20% Wagner, 20% Verdi, 15% Mozart, 15% Verismo, 10% Belcanto và 10% Baroque và phần còn lại là những tác giả khác (10%). Verdi và Wagner luôn chiếm những khoanh lớn nhất trong opera và chắc chắn là trong bất cứ 1 list operatic voices nào cũng phải có ít nhất 1 Wagnerian voice. Cá nhân tôi dành vị trí Wagnerian voice trong cái danh sách của tôi cho Kristen Flagstad. B.Nilsson mới là most fav Wagnerian soprano của tôi, và tôi cũng rất thích Varnay, Crespin, Rysanek, Behrens, Norman, Meier, Hans Hotter, Vickers, Windgassen, Jerusalem,… nhưng tôi không thể xếp ai ở vị trí cao hơn K.Flagstad (kể cả L.Melchior hay L.Lehmann).

Được ghi nhận như là một trong những giọng hát có âm lượng lớn nhất trong lịch sử ghi âm, nhưng Flagstad chưa bao giờ cố biến opera Wagner thành bữa tiệc thịnh soạn của những note cao khổng lồ. R.Strauss dành tặng 4 ca khúc cuối cùng của mình, với những nét nhạc bay bổng tuyệt đẹp cho K.Flagstad, ông hẳn phải rất hiểu bà. Isolde của Flagstad là hình mẫu cho tiêu chuẩn một Wagnerian voice : cường độ, âm lượng của giọng hát phải xuất phát từ  tính kịch trong thứ âm nhạc kịch tính, và hơn hết Flagstad sở hữu  một trong những giọng hát tự nhiên đẹp nhất của lịch sử ghi âm.

Ở đây tôi chọn bản thu âm “Mild und Leise” của Flagstad năm 1948 – một trong vô số những bản thu âm  Liebestod xuất sắc khác đã trở thành thương hiệu riêng của Flagstad.

Download: Mild und leise – Tristan und Isolde – Wagner

Kirsten Flagstad (Soprano)

Issay Dobroven (Conductor)

Philharmonia Orchestra

Recorded in 1948

9. Leontyne Price (1927) soprano

Leontyne Price luôn được nhắc đến như là 1 trong những Verdian soprano xuất sắc nhất trong lịch sử. Khi tôi thưởng thức những bản thu âm để lại của bà, đặc biệt trong opera Verdi – composer yêu thích nhất của tôi, tôi không thể hòan toàn đồng ý với nhận định trên. Tôi thích 1 âm thanh Ý thuần chủng mượt đẹp kiểu Tebaldi, thậm chí Callas, Caballe, Cerquetti cũng cho nhiều trải nghiệm thú vị với âm nhạc Verdi hơn là Price. Tất nhiên không ai trong số những cái tên kể trên có thể hát Aida tốt hơn Price. “ Aida – một nhân vật hay Aida – opera đều có đầy đủ ý nghĩa, nỗi đau và những niềm riêng trong tôi. Trong nhiều khía canh, tôi tin rằng Aida chính là bức chân dung con người bên trong của tôi. Cô ấy chính là người bạn opera thân thiết nhất của tôi, tôi cảm nhận Aida một cách hết sức tự nhiên vì màu da tôi chính là phục trang của tôi. Sự thật hiển nhiên này mang lại cho tôi 1 cảm giác mạnh mẽ, cho phép tôi hoàn toàn tự do trong việc bộc lộ, diễn tả từng cử động cũng như việc diễn xuất mà những vai diễn opera khác không thể đem lại. Tôi luôn cảm thấy, mỗi khi thể hiện Aida, đó lại là một lần tôi bộc lộ con người bản thân tôi với tư cách là một người Mỹ, một người Phụ nữ và một Con Người.” Ngay cả khi giọng hát không ở trong điều kiện tốt nhất, Aida vẫn là của riêng Price, như cái cách bà cảm nhận Aida chính từ  “cái màu da quí phái của mình”. Tôi xin khẳng định Leontyne Price là Prima donna da đen đầu tiên và lớn nhất trong lịch sử opera. Không, tôi không quên Marian Anderson – contralto có ảnh hưởng lớn đến tất cả những ca sĩ cổ điển Mỹ-Phi sau này kể cả Price, cũng không quên những prima donna da màu xuất sắc khác như  G.Bumbry, S.Verrett, M.Arroyo, J.Norman, K.Battle,… Nhưng hãy nhìn vào sự nghiệp ghi âm cũng như biểu diễn của Price, chúng ta phải đồng ý rằng vị trí của bà là độc tôn và không thể thay thế.

Tôi không giới thiệu ở đây “Ritorna vincitor” hay “O patria mia” trong Aida – vai diễn đã đóng dấu bởi L.Price. Tôi biết đến Price lần đầu tiên cũng bằng Aida, và hi vọng bạn (một người vô tình đọc entry này và chưa một lần biết đến Price) hãy tự tìm kiếm Aida của Price để có một trải nghiệm như tôi. Tôi xin giới thiệu ở đây một trích đoạn khác mà Price cũng rất yêu thích và thường sử dụng làm encore trong các recital concert của mình -  màn chết của Cio-cio-san :  “Tu, tu piccolo Iddio! ” thu âm năm 1960 nằm trong “blue album” huyền thoại của Price, khi Price và giọng hát khàn đục tuyệt đẹp và độc đáo của mình đang ở thời kì rực rỡ nhất.

Download: Tu! Tu! piccolo Iddio! – Madama Butterfly – Puccini

Leontyne Price (Soprano)

Oliviero de Fabritiis (Conductor)

Rome Opera Orchestra

Recorded in 1960

10. Tito Gobbi (1913-1984) baritone

Những operatic baritone mà tôi yêu thích nhất là E.Bastianini, P.Lisitsyan và nhất là H.Prey – người tôi thường xuyên sử dụng làm avatar, nhưng không ai trong số đó xuất hiện trong danh sách này. Tôi đã chọn Tito Gobbi. Tôi không chắc Gobbi là 1 giọng hát đẹp hay một giọng hát vang lớn giàu kịch tính, uhm, cứ cho là âm sắc baritone hơi khê và bí của ông không hợp với taste của tôi đi vậy. Nhưng tôi nể phục tài năng của ông, nể phục cái cách mà ông khắc họa nhân vật bằng âm nhạc. Không bao giờ có những đọan phô diễn giọng, kỹ thuật vô nghĩa trong sự thể hiện của ông. Gobbi thực sự là một Callas baritone. Sẽ là một thiếu sót lớn nếu không theo dõi libreto, để ý bối cảnh cốt truyện, tính cách nhân vật khi nghe những bản thu âm của ông, để hiểu những nhấn nhá đầy chủ ý, những sáng tạo sâu sắc của ông ở mỗi nhân vật.

Thật không dễ dàng kể hết tất cả những vai diễn xuất sắc của ông mà không nhiều baritone sau này có thể chạm đến: Rigoletto, Rodrigo (Don Carlo), Iago (Otello) , Tonio (Pagliacci),… và đặc biệt là Scarpia – vai diễn đỉnh cao của Gobbi. Sẽ không một ví dụ nào tốt hơn “Te deum Scene “trong bản ghi âm Tosca huyền thoại năm 1953 (cùng Callas, di Stefano dưới đũa chỉ huy của nhạc trưởng de Sabata) – bản thu âm được nhiều nhà phê bình đánh giá là một trong những bản ghi âm opera xuất sắc nhất mọi thời đại. Một Scarpia nham hiểm , dâm đãng, đầy tham vọng với những toan tính độc ác hiện lên không thể rõ nét hơn.

Download: Tre sbirri, una carrozza … Va, Tosca – Tosca – Puccini

Tito Gobbi (Baritone)

Victor de Sabata (Conductor)

Orchestra e Coro del Teatro alla Scala

Recorded in 1953

11. Christa Ludwig (1928) mezzo-soprano

Tôi chốt hạ danh sách này bằng một cái tên mà tôi băn khoăn nhất : Christa Ludwig. Bà là một trường hợp đặc biệt, tôi có không ít bản thu âm cực kỳ yêu thích (Fidelio – Beethoven, Bluebeard’s Castle – Bartok, Das Lied Von Der Erde- Mahler,Tannhauser – Wagner…) nhưng bà chưa bao giờ nằm trong topfav mezzo của tôi. Rất khó lý giải. Tôi chưa thấy một bản thu âm nào của bà ở dưới mức khá, hầu như perfect. Ludwig gần như xuất sắc trong tất cả những mảng quan trọng nhất của mezzo từ Verdi đến Wagner, từ mozart đến belcanto, từ baroque đến ca khúc thính phòng. Thậm chí bà đủ ấn tượng và rực lửa để không biến cái hoàn hảo ấy trở nên đơn điệu, nhàm chán trong khi chưa bao giờ để cảm xúc chi phối đến mức để phô dù 1 note. Ludwig cũng là một trong những giọng hát Đức có âm sắc đẹp nhất mà tôi biết, và chắc chắn khó có mezzo-soprano gốc Đức-Áo nào có sự nghiệp ngang tầm Ludwig. Mezzo-soprano là type giọng tôi thích nhất và có đến hàng tá favmezzo, trong số đó có không ít người cả danh tiếng và tài năng đều chưa chắc đã bằng Ludwig (obukhova, dolukhanova, arkhipova, obraztsova, verrett, cossotto, baker, bartoli, garanca, … ).Với một giọng hát như vậy, một cá tính nghệ sỹ như vậy, sao tôi vẫn chưa thực sự rung động với nghệ thuật của bà. Thôi cứ coi như là do tôi và bà chưa phải duyên vậy…

Tôi giới thiệu ở đây aria của Leonore: “Komm, Hoffnung, laß den letzten Stern” nằm trong bản thu âm đỉnh cao Fidelio năm 1962 của nhạc trưởng Otto Klemperer (EMI) – Bản ghi âm Fidelio xuất sắc mọi thời đại – một viên ngọc quí giá của opera nói riêng và âm nhạc cổ điển nói chung.

Download: Komm, Hoffnung, laß den letzten Stern – Fidelio – Beethoven

Christa Ludwig (Mezzo-soprano)

Otto Klemperer (Conductor)

Philharmonia Orchestra of London

Recorded in 1962

————-

Chắc chắn không một list nào, dù cố gắng khách quan đến mấy cũng có thể thỏa mãn tất cả mọi người. Mỗi đánh giá đều dự trên những kinh nghiệm, kiến thức và cảm nhận khác nhau của mỗi người. Có thể sẽ có nhiều bạn thắc mắc;: giả dụ như Pavarotti – nghệ sỹ nổi tiếng và quan trọng nhất trong suốt gần nữa cuối thế kỷ 20 ở đâu? , rồi Rosa Ponselle – soprano duy nhất mà Callas ngưỡng mộ, nể phục, hay E.Schwarzkopf – queen off Lieder? hay Callas-bass Boris Christoff? Hay greatest black artist – Marian Anderson? hay Callas-only rival Tebaldi? Rồi tại sao không có Sills, Zeani thay vào đó Sutherland… Tại sao là con số 11? Vâng, như đã nói, tôi đang thử cố dựng một sự khách quan giả lập, khi tôi không bị sự chi phối của tình cảm yêu thích cá nhân (thế nên tôi đã rút Caballe, rút Nilsson,rút Bjorling … ra khỏi list này dù tên tuổi, tài năng họ k0 hề kém những ngời trên). Có thể lần tới tôi sẽ bắt đầu 1 list thứ 2 – list fav artist của riêng tôi, điều này sẽ dễ dàng hơn nhiều.

Khi tôi đứng ở góc độ một người đọc trước những danh sách, những đánh giá chủ quan, tôi có thể mặc sức phê bình và chê bôi, nhưng đứng vào vai trò một người đưa ra list cá nhân thì mới thấy quả là thực sự khó. Thế nên tôi cũng phải rào trước đón sau là “list này của thời điểm hiện tại”, coi nhưa chừa cho mình 1 đường rút, keke :P . Dù sao cũng thấy thỏa mãn ít nhiều vì đã cố gắng dám thử 1 lần. Nếu bạn nào ghé qua blog, đọc entry này, hi vọng có chút comment để cùng trao đổi, dù là đồng ý, phản đối, coi thường, ghi nhận,… Welcome!

Shirley Verrett …Tạm biệt…!

Shirley Verrett

31/5/1931 – 5/11/2010

Rất nhiều người trong chúng ta từng yêu thích bản Barcarolle nổi tiếng “Belle nuit, ô nuit d’amour” – lời nhắn nhủ “chúc ngủ ngon” đầy lãng mạn của anh chồng gửi cô vợ trong trại tập trung Đức quốc xã ở bộ film “La vita è bella”. Bản duet này được lấy từ  LP: “Great Operatic Duets” của 2 diva hàng đầu: Montserrat Caballé và Shirley Verrett. LP này thực ra đc thu âm khoảng năm 1969 tức là cách  bối của film (40s) đến 1/4 thế kỉ, nhưng điều đó k0 phải vấn đề quan trọng, cám ơn Caballe và Verrett đã có 1 bản duet tuyệt đẹp…

Verrett là 1 trong những nữ ca sĩ da màu người Mỹ tôi yêu thích nhất. Bà k có sự nghiệp quốc tế lừng lấy như người đồng hương Grace Bumbry, nhưng k0 có nghĩa là Verret xa lạ với La Scala hay các nhà hát châu Âu cổ kính vốn rất bảo thủ. Verrett k0 để lại nhiều bản thu âm studio, vai diễn thành công nhất trong sự nghiệp là Lady Macbeth trong Macbeth của Verdi. Liệu có 1 Lady Macbeth khác xuất sắc hơn Verrett ko?  Callas, Rysanek, Cossotto, Souliotis hay Nilsson chăng? Tôi nghĩ là Không.

May mắn là Verrett đã kịp để lại 1 bản studio recordings Macbeth với đội hình toàn sao bự  (Cappuccilli, Ghiauorov, Domingo) cùng nhạc trưởng Claudio Abbado. Cá nhân tôi cho rằng, khó có thế có 1 bản thu âm Macbeth nào hoàn hảo hơn:

Download:

Letter scene: Vieni t’affretta…Or tutti sorgete – Macbeth – Verdi

Shirley Verrett (Mezzo-soprano)

Claudio Abbado (Conductor)

Alla Scala Theater Orchestra & Chorus

Recorded in Jan 1976

R.I.P

Goodbye La Stupenda, Joan Sutherland!!!

Joan Sutherland , DBE

7/11/1926 – 10/10/2010

Quá shock ! …

Download: Bel raggio lusinghier…Dolce pensiero di quell’istante  (Semiramide’s aria and cabaletta) – Semiramide – G.Rossini

Joan Sutherland (soprano)

Francesco Molinari-Pradelli (conductor)

Covent Garden Royal Opera House Chorus and Orchestra

Recorded in August 1960

Tôi k0 tin là có note Mí nào đẹp hơn note Mí này đã từng được ghi âm, và 1 cabaletta nào ảo diệu hơn caballetta của Semiramide qua giọng hát Sutherland.

Cảm thấy hối tiếc khi chưa kịp viết 1 bài hoàn chỉnh trên blog về Sutherland -  người đã cho tôi 1 hình dung đầy đủ và chính xác nhất về chức năng nguyên thủy của giọng hát trong opera, trước khi bà về nơi vĩnh hằng.

Rest in peace…

Vĩnh biệt Joan Sutherland, “Điều Kỳ Diệu” cuối cùng của Opera!

Phía sau hàng rào sắt…

Giở lại tập BBCMM số tháng 6/2010 (mình nhẩy ở nhà lão cucsat mấy tháng trước mờ quên béng, :P ). Trang bìa là hình ảnh Hvo lả lướt trong chiếc áo chemise màu violet với nụ cửa nửa miệng đàng điếm. BBCMM đã dành đến tận 6 trang kín cho mục coverstory để lăng xê album mới nhất của HVO: “Pushkin songs” với hãng đĩa Delos, và đăng kèm 1 bài phỏng vấn của nhà báo Hugh Canning hé lộ nhiều chi tiết thú vị về quan điểm nghệ thuật cũng như môi trường âm nhạc giúp Hvo trưởng thành và có 1 vị trí vững chắc trên sân khấu opera hiện nay. Mềnh xin được trích dịch 1 đoạn nhỏ , mờ mình cho rằng khá hay ho khi nhắc đến nền thanh nhạc Soviet. Hvo với tài năng vượt ra ngoài Liên Xô, được phương tây đón nhận, thậm chí thổi phồng, nhưng chưa bao giờ quay lưng lại với Nga, với Liên Xô hay quá khứ khó khăn đã nâng đỡ và chắp cánh cho thành công của anh, điều này làm tôi đặc biệt ngưỡng mộ, không như nhiều ngôi sao hay huyền thoại opera gốc Liên Xô khác đã thành danh ở phương tây và trên thế giới sau này…

“Khi đề cập đến belcanto trong bối cảnh Nga, câu chuyện đã đưa đẩy chúng tôi (Canning và Hvorostovsky – YIH) đến với chủ đề về những ca sỹ đã mang lại ấn tượng mạnh mẽ với anh từ  khi anh còn sinh trưởng  trong  1 gia đình đam mê âm nhạc từ thị trấn Krashnoyarsk những năm 60s. Một khúc lược sử thanh nhạc cổ điển Nga cùng được ôn lại.

Download:

- Mikhail Glinka – A Life for the Tsar (Ivan Susanin; Zhizn’ za tsarya), opera in 4 acts with and epilogue, : Antonida’s romance (No, that is not my sorow)

Gramophone Company Orchestra

Antonina Nezhdanova (soprano)

I. P. Arkadiev (Conductor)

Recorded 1914 (Mono)

- Richard Wagner – Lohengrin, opera, WWV 75 Act III: Lohenrin’s farewell (Beloved Swan!)

Gramophone Company Orchestra

Leonid Sobinov(Tenor)

Bruno Seidler-Winkler (Conductor)

Recorded: 1910 (Mono)

- Jules Massenet  – Don Quichotte, comic opera in 5 acts Act V: Death Scene (O master, Listen my friend)

Bolshoi Theater Orchestra,

Olive Kline (soprano)

Feodor Chaliapin (bass)

Rosario Bourdon (conductor)

Recorded: 1927 (Mono)

- Chaliapin, Nezhdanova và Sobinov – những quỷ thần vĩ đại của nền thành nhạc Nga ở thời kỳ đầu của thế kỹ 20 – tất cả đều được học ở Ý”, anh nói.  “Cái “Trường phái” ấy hoàn toàn là Ý thuần khiết. Sau Cách mạng tháng 10, bức rèm sắt hạ xuống và trong 60 năm, phong cách đã hoàn toàn thay đổi thành 1 dạng mới, kiểu như mang tính chất thể hiện kịch melo cường điệu . Những giọng hát lớn như  gào thét trên sân khấu, (Pavel) Lisitsyan và Arkhipova chỉ là  ngoại lệ. Sự vĩ đại của Arkhipova chính là giọng hát kiểu Ý của bà – legato (liền mạch) và đầy tính cantilena (ngân nga) “.

Download:

- Camille Saint-Saens – Samson et Dalila, opera in 3 acts, Op. 47 Act II: Dalila’s aria (My heart opens to your voice)

Bolshoi Theater Orchestra

Irina Arkhipova (Mezzo soprano)

Vladislav Pyavko (Tenor)

Mark Ermel (Conductor)

Recorded: 1980 (Stereo)

- Pyotr Il’yich Tchaikovsky – Pique Dame (The Queen of Spades), opera, Op. 68 Scene 3: Yeletsky’s aria (I love you dear, beyond all measure)

Bolshoi Theater Orchestra

Pavel Lisitsyan (baritone)

Alexander Melik-Pashaev(Conductor)

Recorded: 1952 (Mono)

“Và đến thập niên 60 với sự cởi mở của Kruschev trong quan hệ với phương tây, một sự cộng tác bắt đầu được diễn ra giữa La Scala, Milan và Bolshoi Opera của Mátx-cơ-va. La Scala gửi những vũ công Ballet đến Bolshoi và Bolshoi gửi  những ca sỹ của họ, (Yuri) Maruzok, (Yelena) Obraztsova, (Vladimir) Atlantov tới La Scala.  Một điều thuận lợi khác của sự cởi mở này là khi tấm rèm được hé mở, một dòng thông tin mới được đổ vào từ phương tây. Tôi đã sử dụng cả ví tiền còm cõi của mình để mua những bản ghi âm opera với các ca sĩ phương tây – tất cả mọi thứ xuất bản trong thập niên 50s, 60s, 70s được phát hành ở Liên xô bởi hãng Meloydia, và một phần tương tự  cũng xảy ra với Decca, Deutsche Grammophon, EMI.  Tôi sở hữu một bộ sưu tập khổng lồ những bản ghi âm từ phương tây, tất nhiên bây giờ chủ yếu là CD. Từ đó , nó cho tôi cơ hội để được học những kịch mục opera Phương tây.”

Download:

- Modest Mussorgsky  – Boris Godunov, opera (Rimsky-Korsakov edition) Act III: Marina’s aria (Marina is bored. Oh, how bored!)

Bolshoi Theater Orchestra

Yelena Obraztsova (mezzo soprano)

Mark Ermler (Conductor)

Recorded 1968 (Stereo)

- Pyotr Il’yich Tchaikovsky – Mazeppa, opera Act II: Mazeppa’s aria (O Maria! in the Winter of my life)

Bolshoi Theater Orchestra

Yuri Mazurok (baritone)

Mark Ermler (Conductor)

Recorded: 1971 (Stereo)

- Alexander Borodin – Prince Igor, opera (completed by Rimsky-Korsakov & Glazunov) Act II: Vladimir Igoryevich’s recitative and cavatina (Daylight is fading)

Bolshoi Theater Orchestra

Vladimir Atlantov (tenor)

Mark Ermler (Conductor)

Recorded: 1966 (Stereo)

Có một điều khá bất ngờ khi khám phá ra rằng Hvorostovsky, với một giọng nam trung quý phái (baritono nobile) như được đào tạo theo phong cách Ý hoàn hảo, lại là một người phần lớn là tự học. “Tôi không tin vào những giảng viên thanh nhạc”, anh giải thích ” tôi tin vào những con người có khả năng dạy tôi hoàn thiện. Nếu so sánh giữa Mỹ và Liên xô trong việc đào tạo thanh nhạc thì giống như  so sánh đêm với ngày vậy. Một sinh viên Mỹ phải kiếm tiền để trả cho giảng viên cho 1 giờ học. Trong 2 năm, nếu may mắn , người ta có thể gọi anh thử giọng. Nhưng trong hệ thống Nga, anh sẽ mất 5 năm để học tại nhạc viện. Tất cả mọi thứ đều được Liên Bang chi trả, và anh phải học cả piano, ký xướng âm, lý thuyết âm nhạc, nhạc lý.  Tôi bắt đầu được học âm nhạc từ khi tôi mới 7 tuổi, học cả piano, chỉ huy, hát hợp xướng cũng như thanh nhạc. Tôi thậm chí phải học cả accordion như một nhạc cụ thứ 2 nữa”

Anh cũng chỉ ra rằng, anh là một trong những người đầu tiên trong thế hệ được hưởng những ưu đãi từ những thuận lợi của hệ thống giáo dục Soviet và sau đó lại được tạo điều kiện xuất khẩu tài năng ra trường thế giới. Trước đây, khoảng những năm 1980 đổ về trước, chỉ duy nhất một cá nhân Liên Xô xuất chúng được ủng hộ hợp pháp của chính quyền là có sự nghiệp quốc tế lừng lấy, họ chủ yếu trưởng thành từ nhà hát opera Bolshoi, nhưng các cơ hội đã bắt đầu ào ạt đổ tới khi đoàn biểu diễn của nhà hát opera Kirov có được một chuyến viếng thăm đầy ấn tượng tới Convent Garden dưới sự dẫn dắt của nhạc trưởng Yuri Termikanov và ông đã giới thiệu một nhóm  nghệ sỹ hát tuyệt vời, trong số đó có giọng nam trung Sergei Leiferkus gây được thiện cảm với khán giả Anh quốc.  Khi ấy, Hvo ở độ tuổi đôi mươi và chuẩn bị bắt đầu cho việc cất cánh.

- Tôi đã được nhà nước Liên Bang đối xử hết sức tử tế, khi tôi dành chiến thắng trong 1 loạt các cuộc thi. Cardiff – singer of the World tất nhiên là quan trọng và có uy tín nhất. Sau đó, sự nghiệp của tôi đã bắt đầu vượt khỏi nước Nga, tôi được chuyển nhà từ Krashnoyarsk đến Matx. Tôi được cấp 1 căn hộ tại Matx như một phần thưởng cho chiến thắng tại Cardiff.  Đó là cách đối xử  điển hình của hệ thống nhà nước Soviet đối với những nhân vật gây được tiếng vang vào thời gian ấy. Boris Yeltsin , tổng thống mới của chúng tôi, còn tặng tôi 1 căn hộ ở ngay giữa trung tâm Matx ...”

Thực hiện bởi Hugh Canning – BBCMM vol18 number10 June 2010 (YIH trích dịch)

*)Đoạn chat này được thực hiện trong lúc dịch, keke:

Chibura Hakkai: kiểu xã hội chủ nghĩa
YIH: Obraztsova, Maruzok, Atlantov –> ra là các anh chị này
Chibura Hakkai: phân chia theo suất
YIH: phải chiến đấu
YIH: trầy vi tróc vảy
Chibura Hakkai: nhiều người có tài nhưng ko được xếp hạng 1
YIH: để được thành sao quốc tế
Chibura Hakkai: thì cũng chỉ ì ạch trong nước
Chibura Hakkai: :D
YIH: ừa, :) )
Chibura Hakkai: y chang Việt Nam thôi
Chibura Hakkai:
:) )
YIH: Nhưng những tài năng nó xuất ra thế giới
YIH: Cũng có phải phế phẩm đâu
YIH: Toàn là A-level cả đêí.
Chibura Hakkai: suất chỉ có thế, chúng mày giết nhau mà giành giật
Chibura Hakkai: nó đã chọn
Chibura Hakkai: thì cũng phải chọn thằng hạng A chứ
Chibura Hakkai: nhưng có nhiều thằng khác cũng hạng A ko được chọn
Chibura Hakkai: nên thiệt
YIH: :D
YIH: ah` uh
YIH: đương nhiên
YIH: :P
YIH: thì cũng phải chọn đứa thông minh, khôn khéo , giỏi kèn cựa.
YIH: sau này ra quốc tế còn biết la liếm các nhạc trường và producer nước ngoài chứ
YIH: :P
YIH: thế mới làm rạng danh Liên Xô được
YIH: chứ  xuất ra chỉ để làm ca sĩ hạng 2 hát phục vụ cho dân tư bản lắm tiền nghe áh?
YIH: hóa ra phí công đào tạo của “nhân dân” Liên Xô ah.
YIH: —> đầu tư k0 hiệu quả, thế thì thà biến về nước mờ phục vụ quần chúng cần lao cho xong.
YIH: Các bố ở trển tính cả rồi.
YIH: keke

<—- no comment =))

up thêm cái này của Hvo cho bà con nghe để đọc đỡ nản, romance được trích từ album thu  âm chỉ chưa đầy 1 năm sau cuộc thi Cardiff của cậu chàng , giọng vẫn còn tươi mới như … chiếc cúp pha lê cáu cạnh, keke (bản này cũng đc sử dụng cho buổi offline Hội ngộ vừa rồi)

Download:

Sergei Rachmaninov (Ne poj, krasavitsa, pri mne), (Bài ca Gruzia) Op. 4 No. 4

Dmitri  Hvorostovsky (baritone)

Oleg Boshniakovich (piano)

Recorded: London, July 1990

———–

Lời thơ: Alexander Pushkin (1799-1837)

Đừng hát nhé, người đẹp ơi, khi có tôi
Những bài ca Gruzia buồn bã,
Lời em hát khiến tôi nhớ quá
Quãng đời đã qua nơi bến bờ xa.

Lời em ca sao trở nên nghiệt ngã
Khi bắt tôi nhớ đến một thời
Trên thảo nguyên với những đêm trăng sáng,
Và nhạt nhòa mờ xa bóng một người.

Gặp em tôi tưởng như quên được,
Hình bóng thân yêu, số phận một thời,
Nhưng em hát và trước tôi lại hiện
Hình bóng xưa, làm sao quên, em ơi.

Đừng hát nhé, người đẹp ơi, khi có tôi
Những bài ca Gruzia buồn bã,
Lời em hát khiến tôi nhớ quá
Quãng đời đã qua nơi bến bờ xa.
(1828)
Nguyễn Quỳnh Hương (Tykva)  dịch

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.